Thursday, September 9, 2010

VVA RADIO MESSAGE SEPTEMBER 6TH, 2010 - VVA OBSERVES LABOR DAY AND 911

.

RADIO VNHN
LẬP PHÁP – CỘNG ĐỒNG
Do Voice of Vietnamese Americans phụ trách
Thứ Hai ngày 06 tháng 09, 2010


http://radiohaingoai.org/TuanNay/LapPhapCongDong.mp3

Xin bấm vào link để nghe. Audio file này chỉ có hiệu lực trong 1 tuần, xin vui lòng tải xuống nếu muốn giừ lại. Xin cảm ơn.


Ngọc Giao và Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt xin kính chào quý thính giả đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại và quý đồng hương khắp nơi.

Chương trình Lập Pháp và Cộng Đồng hôm nay của chúng ta xin được bắt đầu bằng lời chào mừng ngày Lễ Lao Động của Hoa Kỳ, nhằm vào ngày thứ hai đầu tiên trong tháng 9 hàng năm, năm nay là Thứ Hai, ngày 6 tháng 9.Đây là ngày bắt đầu phong trào tôn trọng người lao động, và đặc biệt để vinh danh các thành quả kinh tế, xã hội của người công nhân Hoa Kỳ.

Ngày Lễ Lao Động đầu tiên tại Hoa Kỳ là ngày 5 tháng 9, năm 1882, tại New York, được phát động bởi Công Đoàn Lao Động Trung Ương tại New York. Đến năm 1894 thì trở thành ngày Lễ Liên Bang. Trong năm 1894, một số công nhân đã xuống đường và tử thương vì sự tấn công của quân đội trong kỳ “Pullman Strke”. Tổng Thống Cleveland đã đưa vấn đề giải hòa và tôn trọng các công đoàn lao động lên ưu tiên một. Để tránh khủng hoảng hơn nữa, Quốc Hội nhanh chóng thông qua dự luật đưa ngày Lễ Lao Động thành ngày Lễ Liên Bang. Trong dịp Lễ Lao Động năm nay, TT Obama đã nói rằng ngày Lễ Lao động là một cơ hội để tái khẳng định cam kết đối với người lao động ở Mỹ. Ông đề cập tới một số chương trình của chính phủ ông, trong đó có việc giảm thuế cho các gia đình trung lưu và đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, và nói rằng những chương trình này sẽ tạo ra công ăn việc làm.

Ngày hôm nay, thứ hai 6 tháng 9, TT Obabma đến thăm Milwaukee để nói chuyện nhân ngày Lễ Lao Động, và vạch ra các nỗ lực tạo thêm việc làm.

Bộ Trưởng Lao Động Hilda Solis và ông Richard Trumka, Giám Đốc của AFL-CIO sẽ tháp tùng TT Obama tại buổi lễ này. TT Obama kêu gọi các nhà làm luật tại Quốc Hội hãy nhanh chóng thông qua ngân khoản tài trợ thêm cho các tiểu doanh nghiệp, và sẽ đưa ra các chương trình thiết thực nhằm tạo thêm việc làm cho người dân.

Wisconsin có khoảng 385 ngàn công nhân thuộc các công đoàn, và là tiểu bang quan trọng nhất cho đảng Dân Chủ trong các kỳ bầu cử trung đoạn. Đảng Dân Chủ đang cố bảo vệ ghế TNS Russ Feingold’s tại Wisconsin và ít nhất 2 ghế Dân Biểu tại Hạ Viện cho khỏi bị mất vào phe Cộng Hòa trong kỳ bầu cử tháng 11/ 2010.

.Tin VOA cho biết, Hơn một năm sau khi Hoa Kỳ vươn ra khỏi tình trạng suy thoái trầm trọng nhất của thời kỳ hậu thế chiến thứ hai, mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ đang chậm lại và tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục lơ lửng ở mức gần 10%.

Tin VOA Trong lúc ngày lễ Lao Động gần kề, một cuộc thăm dò mới cho thấy hầu hết công nhân Mỹ hài lòng với công việc của họ nhưng lo ngại là không biết một ngày nào đó họ có thể nghỉ hưu hay không.

Trong cuộc thăm dò 613 người đi làm việc tại Hoa Kỳ, một công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu có tên là StrategyOne cho biết họ thấy cứ 4 trong số 5 người đi làm việc tại Hoa Kỳ nói là họ hài lòng với việc làm và công việc của họ, vì nhiều người nói rằng họ cảm thấy là cấp trên tôn trọng họ và tôn trọng công việc họ làm.

Nhưng tình hình kinh tế bấp bênh, và cứ 10 công nhân viên thì có gần 1 người thất nghiệp đã gây cảm giác lo ngại cho các công nhân viên rằng không biết rồi ra họ có thể nào nghỉ việc để về hưu hay không.

StrategyOne thấy rằng cứ 3 người được phỏng vấn có đến gần 2 người thực sự không tin là họ sẽ có thể về hưu.

Trong số những người được thăm dò, gần phân nửa nói rằng trong vài năm qua, đồng lương của họ đã bị cắt bớt và một con số tương tự nói rằng họ lo mất việc hoặc bị cắt bớt giờ làm việc.

VOA
Ông Zandi nói: “Có khả năng 1 trong 3 sẽ xảy ra tình trạng đó. Tuy chưa đến mức chắc chắn, nhưng vẫn còn quá cao để chấp nhận rủi ro.”

Đó là nhận định do kinh tế gia trưởng của trang mạng Economy-dot-com thuộc đại công ty tài chính Moody’s đưa ra trong chương trình “Face the Nation” của đài truyền hình CBS. Triển vọng u ám này cũng được sự tán đồng của bà Laura Tyson, đang phục vụ trong Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Barack Obama.

Bà Tyson cho biết: “Chúng ta đang ở trong một tình trạng lên xuống ở mức thấp. Có rất nhiều rủi ro đi xuống. Chúng ta cần phải có những chính sách về công ăn việc làm nhắm vào các mục tiêu.”

Trong số các biện pháp được đưa ra bàn luận có việc cho nợ thuế để khích lệ các doanh nghiệp mướn thêm công nhân mới và kích thích thêm các hoạt động khảo cứu và phát triển. Ngoài ra, chính quyền của Tổng thống Obama còn đang cứu xét việc gia hạn giảm thuế lợi tức đã áp dụng cách đây 1 thập niên cho tất cả mọi người, ngoại trừ những người thuộc 2% có lợi tức cao nhất.

Bà Tyson nói: “Tôi nghĩ đó là điều chính đáng phải thi hành về mặt kinh tế. Chúng ta phải quan tâm đến sức chi tiêu của khối đa số dân chúng. 98% dân số mà chúng ta sẽ gia hạn giảm thuế – chính là khối dân sẽ có mức tiêu thụ cao. Đó là nơi các lợi tức không bị đặt dưới áp lực ở mức cao. Ta cần phải giúp đỡ dân chúng về mặt lợi tức của họ.”

Nhưng kinh tế gia Mark Zandi đưa ra lời cảnh báo. Ông đồng ý rằng “sự phục hồi cần có sự hỗ trợ nào đó”, nhưng ông nói thêm rằng sẽ phải trả giá cho các dự án kích hoạt kinh tế mới.

Ông Zandi nói: “Ta cần phải chi trả cho các dự án đó. Ta không thể làm việc này nếu ta không trả một cái giá.”

Và như thế là Hoa Kỳ đứng trước hai nhu cầu dường như trái ngược nhau: kích hoạt nền kinh tế, và cắt giảm mức thâm hụt mậu dịch. Chính quyền Obama mưu tìm việc kích hoạt ngắn hạn, trong khi hứa hẹn hạn chế mức chi dài hạn. Nhưng còn phải chờ xem có thể đạt được thành quả gì, nếu có, trong thời gian 2 tháng trước các cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11.

(Theo tin VOA)

Với vấn nạn suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, dân Hoa Kỳ đã nhìn vào khối di dân như gánh nặng muốn chia sẻ công ăn việc làm của họ. Nhiều tranh luận trên các giải pháp cho Luật Di Dân đang được bàn thảo, trong đó có vấn đề tranh cãi Luật Di Dân tại Arizona, và hiện đang sắp được áp dụng tại Virginia.

.Dân nhập cư bất hợp pháp vào Hoa Kỳ giảm bớt
Trung tâm Pew Hispanic trụ sở tại Washington trong một phúc trình cho biết năm ngoái có khoảng 11 triệu 100 ngàn dân nhập cư bất hợp pháp sinh sống tại Hoa Kỳ. Con số này giảm 8% so với con số lên cao nhất là 12 triệu vào năm 2007.

Ngoài việc cố gắng tạo việc làm cho người dân trong nước, Hoa Kỳ cũng cố gắng mở thêm thị trường, và nhất là muốn tăng giao dịch thương mại với các nước Đông Nam Á Châu.

.Hoa Kỳ xác nhận Thượng đỉnh Mỹ- ASEAN lần thứ hai sẽ diễn ra tại New York


Hoa Kỳ chính thức xác nhận Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ- ASEAN lần thứ hai sẽ được tổ chức ngày 24/9 tại New York. Theo Tổng thư ký Hiệp hội Đông Nam Á sự kiện này thể hiện thái độ tin tưởng của Hoa Kỳ đối với khu vực. Tuy nhiên Miến Điện tiếp tục là một cái gai trong quan hệ Mỹ-ASEAN.
Ngày 14 tháng 9 tới đây, Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, East –West Center tại Hoa Thịnh Đốn có mở một cuộc thảo luận với về Liên Hệ Hoa Kỳ - Việt Nam với Diễn Giả chính là TNS Jim Webb, và Nguyên Bộ Trưởng Thương Mại Việt Nam, ông Trương Đình Tuyển. Buổi Hội Thảo sẽ có sự tham dự của nhiều nhà làm chính sách kỳ cựu, thảo luận về quan hệ song phương trong15 năm qua và hướng tới tương lai thế nào. Đặc biệt sẽ có sự góp mặt và thảo luận của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, giảng dạy bộ môn Chính Trị và Bang Giao Quốc Tế tại Ðại Học George Mason, Virginia, và cũng là giám đốc Chương Trình Nghiên Cứu Ðông Dương tại đại học này. GS TS NM Hùng là cố vấn cho Voice of Vietnamese Americans.

Buổi Hội Thảo được tổ chức vào ngày Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010, tại The US Capitol Visitor Center, Senate-side meeting room SVC 200/201, từ 10:00 am – 12:30 pm. Buổi Hội Thảo mở cửa cho quần chúng, nhưng xin ghi danh trước ngày 10 tháng 9

Xin RSVP bằng điện thư đến: nobermann@uschamber.com
Please RSVPby September 10 with Ms. Natalie Obermann by email at nobermann@uschamber.com
(Enter at First Street and East Capitol Street, NE, Washington, DC 20559)

.

USS George Washington thăm Philippines
Hàng không mẫu hạm USS George Washington tới Manila để tăng cường quan hệ hải quân giữa Hoa Kỳ và đồng minh của mình tại Đông Nam Á.

Hải quân Mỹ và sẽ tham gia các dự án tăng cường quan hệ và trao đổi chuyên môn với hải quân Philippine khi chiến hạm neo đậu cách Manila khoảng 300 km.

Mỹ sẽ bán đứng Việt Nam tại Biển Đông?

VietCatholic News (26 Aug 2010 16:41)

Những diễn biến ngọai giao gần đây đã gây ra một luồng dư luận sôi nổi là phải chăng Mỹ đang muốn liên minh với Việt Nam để đối phó với một nước Trung Hoa đang mưu đồ bá quyền, mà trường hợp trước mắt là những lấn ép lãnh hải tại Biển Đông?

Có ý kiến cho rằng Việt Nam nên nắm lấy cơ hội nghìn năm một thuở này mà duy tân như nước Nhật đã từng làm.

Dĩ nhiên là, trong một bàn cờ rối như ở Biển Đông thì có một nước cờ mà đi cũng là một niềm vui, dù cho rằng tòan thể thế cờ hình như vẫn còn là một thế kẹt.

Nhưng câu hỏi được đặt ra là, đây có phải là khởi đầu của một thế cờ mới chăng?

Biển Đông là một bàn cờ có nhiều tay chơi cho nên diễn biến ra sao còn tùy thuộc vào não trạng của từng tay chơi một.

Não trạng của con cọp Trung Hoa khổng lồ thì ai cũng rõ biết, đó là nó đang muốn sổ lồng, nó muốn cả vùng Biển Đông là cái ao tắm của nó.

Não trạng của các nước nhỏ quanh vùng thì rõ ràng là "thủ". Giống như một anh chàng tay không bỗng thấy mình đứng trước một con cọp dữ thì vũ khí chính chỉ là tiếng hét mà thôi.

Còn não trạng của "con cọp giấy" Hoa Kỳ (tên mà Mao đặt cho Mỹ năm 1956) là gì?

Vì đây là một tay chơi vừa nhập cuộc cho nên việc tìm hiểu anh ta cho rõ ràng là rất cần thiết.

Nếu có thể lấy lịch sử mà đóan trước tương lai, thì nước Mỹ là một nước luôn luôn hành động và trung thành theo đuổi một tư tưởng "thịnh thời". Những tư tưởng này có nhiều hình thức và tên gọi khác nhau (như lý thuyết, chương trình, sách lược) nhưng chung qui thì đó là một lọai đồng thuận phát sinh ra bởi một môi trường tự do tư tưởng, lưỡng đảng và chính sách minh bạch mà ra.

Thử nhìn lại một số tư tưởng "thịnh thời" gần gũi với chúng ta nhất.

Sau thế chiến thứ hai, người Mỹ tin rằng để chống lại chủ thuyết Cộng Sản đang phát triển mạnh trong các nước bị tàn phá thì điều cần phải làm là tái thiết. Do đó họ đã bỏ ra 44.3 tỷ Mỹ Kim từ năm 1945 cho đến 1953 để phục hồi nền kinh tế Âu Châu. Những chương trình viện trợ đó thường được gọi chung là Marshall Plan (Truman, 1948).

Marshall Plan không những chặn đứng Cộng Sản ở Châu Âu mà còn đưa Tây Âu đến một thời cực thịnh chưa từng thấy, và đó cũng là lý do gián tiếp của sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết sau này.

Bên phía Á Châu thì người Mỹ tin rằng với những quốc gia nhược tiểu nhưng có nhiều liên hệ về văn hóa lịch sử như Trung Hoa, Việt Nam,Thái Lan và Mã Lai, thì một quốc gia bị đổ sẽ kéo theo sự sụp đổ dính chùm của các quốc gia khác. Dwight D. Eisenhower đặt tên lập luận đó là lý thuyết Domino (Domino Theory, 1954.) vì nó giống như một hàng domino, một con cờ bị lật sẽ dồn những con cờ khác lật theo.

Vì vậy suốt từ năm 1950 cho tới 1980 người Mỹ đã không tiếc tiền đổ vào miền Đông Nam Á để be bờ, ngăn chặn. Những nỗ lực này thất bại vì Trung Hoa và bán đảo Ấn Trung (trong đó có Việt Nam) đã bị mất, nhưng đổi lại các quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Mã lai, Ấn Độ và Indonesia đã có đủ thời gian để tự cải tiến và vượt qua cái hấp dẫn của chủ nghĩa Cộng Sản.

Sự kiện chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975 tuy bị coi là một thất bại của lý thuyết Domino nhưng thực ra nó còn là hệ lụy của một chủ thuyết mới ở Mỹ. Lúc này người Mỹ đã nhận ra rằng cả hai bên Tư Bản và Cộng Sản đã phát triển vũ khí hạt nhân nhiều đến nỗi, ngay cả lực lượng trừ bị lọai thứ ba cũng đủ sức tiêu diệt tòan thể nhân lọai nhiều lấn (nghĩa là nếu một nước bị tấn công bất ngờ và lực lượng nguyên tử lọai tấn công bị tiêu diệt tới hai lần liên tiếp thì lực lượng nguyên tử lọai thứ ba cũng vẫn có thể tự sát cả thế giới.) Trong một bối cảnh như thế thì chiến thắng là vô nghĩa và do đó con đường phải đi là hòa hõan với nhau (Detente), cuộc chiến về quân sự đã lỗi thời và chiến tuyến mới chính là kinh tế. Từ năm 1969 cho tới 1977 Nixon và Kissinger đã làm hòa với Nga, làm bạn với Tàu để mở rộng thị trường trong một chính sách hòa hõan và xáp lại gần nhau (Detente and Rapprochement). Việt nam là một con cờ lỗ lã trong nước cờ kinh tế này, và vì thế mà bỏ đi càng sớm thì càng tốt.

Từ năm 1981 cho đến 1989 sự phục hồi kinh tế của Hoa Kỳ đã vững mạnh đến nỗi Reagan có thể chủ trương "Hòa Bình trong thế mạnh" (peace through strength). Ông không để cho Liên Bang Xô Viết rảnh tay lo việc kinh tế nữa bằng cách giáp công ba mặt: (1) Không bán cho LBXV những kỹ thuật cao, (2) cạnh tranh hàng hóa để mặt hàng LBXV mất giá và (3) tăng cường chi phí quốc phòng làm cho LBXV phải chạy đua. Trong những năm sau cùng của cuộc chiến tranh lạnh, Moscow đã phải chi tới 25% GDP (tổng sản lượng quốc gia) cho kinh phí quân sự mà vẫn không theo kịp Mỹ trong khi tòan dân đói khát phải xếp hàng cả nửa ngày để mua được một mẩu bánh mì. Cuộc chiến đã kết thúc không một tiếng súng trong thời Tổng Thống Bush (cha).

Từ đó cho đến nay, Những tin tưởng của Hoa Kỳ vẫn phản ảnh những ưu tiên đã có từ thời Nixon và Kissinger. Nghĩa là vẫn tìm thị trường phát triển bằng cách kết thân với Trung Quốc. Nhưng với sự chỗi dậy của Nga và sự phát triền hải quân của Tàu mới đây, nhiều lý thuyết gia Mỹ đã bắt đầu đặt lại phương trình.

Một lý thuyết gia được nói tới nhiều là George Friedman. Trên tạp chí hàng đầu của giới trí thức Mỹ, khi người ta đăng bài của Tổng Thống Obama về những kỳ vọng của 40 năm sắp tới, ngay bên cạnh người ta cũng đăng ý kiến của ông về viễn ảnh thế giới 40 năm sau (The Smithsonian, special issue, Our 40th Anniversary 1970-2010.)

Có thể gọi ông là một quân sư vì ông là chủ tịch của một hãng tình báo tư, hãng STRATFOR. Hãng của ông cung cấp tình báo cho các chính phủ và các cơ sở thương mãi. Đây là hãng tư nhân duy nhất được nối mạng với hệ thống chiến tranh giả định của chính phủ HK (Joint Theater Level Simulation by the Joint Warfighting Center.)

Không rõ ông có tiếng nói gì trong những chính sách của Obama hay không, nhưng là một tiến sĩ chính trị tại Cornell University, ông đã viết nhiều sách tiên đóan về tương lai thế giới như The Next 100 Years, America's Secret War, The Intelligence Edge, and The Future of War.

Ông là người duy nhất trong các tác giả hiện đại đã tính tóan một vấn đề dựa trên các dữ liệu của cả hai yếu tố kinh tế và quân sự.

Những tiên đóan của ông có khi lạ lùng khó tin, nhưng quan trọng không phải là ở sự việc có xảy ra hay không, hoặc sẽ xảy ra đúng ngày giờ không, mà là những yếu tố cấu tạo ra sự việc có tính cách thuyết phục hay không.

Ông tiên đóan:

Năm 2020 Nước Tàu sẽ phân chia.

Năm 2050 Thế chiến thứ 3 sẽ xảy ra giữa các liệt cường là Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan và Nhật.

Tại sao Ba Lan (nền Kinh Tế thứ 21 trên thế giới) sẽ trở thành liệt cường trong vòng 40 năm thì đó là việc cần phải chờ xem và Friedman cũng không đưa ra nhiều chứng cớ rõ ràng. Tuy nhiên ông nói Ba Lan vì ở giữa hai gọng kìm Đức và Nga cho nên sẽ luôn luôn là đồng minh trung thành của Mỹ.

Thổ Nhĩ Kỳ (nền Kinh Tế thứ 17) là nước tiền tiến nhất của khối Hồi Giáo, có quân đội hùng mạnh nhất Châu Âu, đang là một thế lực hải quân ở Địa Trung Hải, sẽ có thể trở thành trung tâm của khối Hồi Giáo và sẽ cần một lực lượng hải quân rộng hơn để nối liền các quốc gia hồi giáo quanh vùng Ấn Độ Dương.

Về việc nước Tầu, Friedman cho rằng Trung Hoa sẽ không thể trở thành một đe dọa cho Mỹ vì trong sân nhà của Trung Hoa sẵn có một tỷ người đang đói rách, khác chủng tộc, và sống trong các vùng khô cằn. Một quốc gia với vóc dáng kinh tế và quân sự chưa vững vàng như vậy thì việc lo nội trị đã đủ là một vấn đề rồi. Chưa kể đó là những yếu huyệt sẽ quật ngã Trung Hoa nếu chiến tranh tòan diện xảy ra, cho nên Trung Hoa sẽ tránh những đụng độ lớn.

Nước Nhật là quốc gia có nền kinh tế ngang ngửa với Trung Hoa, nhưng dân Nhật đòan kết, nền kinh tế và quân sự vững bền. Con đường sống của Nhật là hàng hải cho nên họ ưu tiên phát triển hải quân và đang đứng đầu Á Châu. Mỗi năm chi phí quốc phòng của Nhật là 45.8 tỷ, chỉ sau Hoa Kỳ và Anh Quốc, to gấp rưỡi chi phí của Tẩu (29.9 tỷ). Quan trọng hơn, kinh phí đó chỉ là 1% GDP của họ, có nghĩa là họ có thể tăng gấp 3 lực lượng hải quân một cách dễ dàng (Mỹ 3.6% GDP kể chung các binh chủng.)

Friedman không đề cập nhiều đến Ấn Độ và Ba Tây. Có thể ông cho rằng Ấn Độ sẽ không bao giờ thách thức Mỹ, hoặc như nhiều nhà phân tích khác (i.e Joel Kotkin) thì Ấn Độ sẽ không tiến xa chỉ vì xã hội Ấn luôn luôn phân hóa. Còn Ba Tây thì cho đến nay vẫn chưa là một hải lực quan trọng.

Friedman tiên đóan Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật sẽ thách thức sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ và cuộc chiến sẽ khởi đầu bằng những đụng độ trên không gian để tiêu diệt vệ tinh viễn thông điều khiển tầu bè của nhau.

Như đã nói ở trên, những tiên đóan của Friedman lạ lùng và khó tin, nhưng quan trọng không phải là ở sự việc có xảy ra hay không mà là những chứng cớ. Về điểm này thì hầu như các bình luận gia của Mỹ đồng ý với nhận xét của Friedman về hai nước Nhật và Tầu, ít ra là chưa có nhiều ý kiến đối lập.

Thế kỷ 21 cho thấy tầm quan trọng về kinh tế của khu vực Thái Bình Dương, số lượng giao thương đã vượt qua Đại Tây Dương.

Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất tiếp cận với cả hai đại dương cùng một lúc, và là cường quốc duy nhất kiểm sóat tất cả các mặt biển trên trái đất. Sức mạnh kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ tùy thuộc vào Hải Quân. Cho nên sẽ không ai được thách thức Hải Quân của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ sẽ kềm giữ những ai có tham vọng phát triển Hải Quân để trở thành một mối lo cho họ.

Hoa Kỳ trong một tương lai gần sẽ vẫn là vô địch về kinh tế và quân sự. Trong vòng 40 năm tới, dân số Hoa Kỳ sẽ trẻ lên 42%, trong khi Trung Hoa già đi 10%, Âu Châu già đi 25% Nam Hàn già đi 30% và Nhật 40% (Theo ước tính cùa sở kiểm tra dân số Hoa Kỳ.) Sự trẻ trung hóa đó cộng với một nền giáo dục thúc đẩy công nghệ cao (các trường Đại Học Mỹ đào tạo nhiều kỹ sư hơn Ấn Độ và Nhật xét theo cả hai hai phương diện tỳ số và số lượng,) cộng với yếu tố đất rộng, nhiều tài nguyên nội địa, là những lý do giúp Hoa Kỳ duy trì vị thế độc tôn này.

Nếu giới quân sự Mỹ có ý kiến tương đồng với Friedman về những thế lực có thể thách thức sức mạnh của Mỹ trong tương lai thì quốc gia mà Mỹ lưu tâm trong vùng Thái Bình Dương là Nhật chứ không phải là Trung Hoa. Và lý do Mỹ phải bảo vệ đường biển tại Biển Đông là có chủ ý không cho Nhật có cái lý do là cần phát triển hải quân thêm nữa để bảo vệ lấy mình.

Một khi Trung Quốc nhượng bộ quyền hải lưu của Nhật và Mỹ vừa đủ, thì thái độ của Hoa Kỳ sẽ lập tức đổi chiều. Mỹ vẫn coi trọng thị trường rộng lớn của Trung Hoa và vẫn coi Trung Hoa là không nguy hiểm.

Việt Nam trở nên quan trọng với Mỹ chỉ vì Trung Quốc đã đi quá đà cần phải điều chỉnh lại. Nhưng sự quan trọng này là tạm bợ và không thỏai mái vì kinh nghiệm đã làm cho Mỹ không tin vào Việt Nam được. Sự liên kết hay tương trợ này chỉ có thể kéo dài nếu Việt Nam được sự hậu thuẫn chính trị trong nước Mỹ và, tuy chưa đủ khả năng kiểm sóat Biển Đông thì cũng phải có khả năng phá rối.

Nhìn vào thế cờ Biển Đông, cho đến khi Việt Nam thực sự là một tay chơi có bản lĩnh và căn cơ, Việt nam vẫn chỉ là một nước cờ người khác tạm dùng.

Và nếu thực sự như vậy, thì những lạc quan của người Việt khắp nơi vẫn giống như những giọt bọt bèo mau vỡ mà thôi.

Trần Mạnh Trác


Ngọc Giao cũng xin kính mời quý đồng hương dành ra một phút mặc niệm, để tưởng nhớ và cầu nguyện cho các nạn nhân tử nạn ngày 9/11, năm 2011 tại New York. Trong tinh thần ôn cố tri tân, Ngọc Giao xin được gửi đến quý thính giả một bài viết giá trị, do TS Đinh Xuân Quân đề nghị.

ĐÂU LÀ CHỖ THỰC SỰ ĐÁNG SỢ CỦA NƯỚC MỸ?

(Đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông Lưu Á Châu, hiện đang là Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân của Quân khu Bắc Kinh.)

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Quốc.

Hai nước Trung Quốc- Mỹ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động. Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi." Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác: "Thưa thày, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."

Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông. Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa. Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người không yêu tổ quốc mình hợp thành, nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Nói một thôi một hồi rồi, vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.

Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta, lớn đến nhà nước, nhỏ tới từng đơn vị, phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế, 1 là họ không mắc sai lầm; 2 là họ ít mắc sai lầm; 3 là mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế. Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất. Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc. Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines , Indonesia , lại cộng thêm vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia "dân chủ" bao vây là hiệu ứng dài hạn.

Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý. Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố. Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng. Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi. Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.

Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này: Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc. Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.

---

Tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ngày 11 tháng 9 năm nay chúng ta có một chương trình nhạc hòa tấu đặc biệt “Ca Ngợi Tự Do”, hay “Ode to Freedom”, do nhạc sĩ nổi danh Lê Văn Khoa soạn và điều khiển. Chương trình hòa nhạc “Ca Ngợi Tự Do” này nhằm kỷ niệm và vinh danh 35 năm sau cuộc chiến Việt Nam và tưởng niệm các nạn nhân 9/11. Chương trình tổ chức tại the Rachel M. Schlesinger Concert Hall and Arts Center at Northern Virginia Community College, Alexandria campus, 3001 North Beauregard Street, Alexandria, Virginia 22311, at 6:30 pm. Giá vé 2 hạng $35 và $45.

Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa sinh ngày 10 tháng 6, tại Cần Thơ. Ông là người Việt tỵ nạn CS, đến Hoa Kỳ vào tháng 5, 19775. Ông đã sáng tác rất nhiều nhạc đủ loại, với trên 600 bản nhạc và nhiều bản hòa âm, gồm nhiều thể loại dân ca Việt Nam và các loại nhạc hòa tấu cũng như đồng ca. Nhạc của ông được ca đoàn Ngàn Khơi và Ban Nhạn Đại Hòa Tấu Vietnamese American Philharmonic Orchestra trình tấu. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là một thiên tài âm nhạc của Việt Nam, và đây là dịp đặc biệt để chúng ta có thể thưởng thức một buổi hòa nhạc có tính quốc tế do một nhạc trưởng nổi danh người Mỹ gốc Việt tự soạn và điều khiển. Xin kính mời quý đồng hương tham dự đông đảo.

Vì thời giờ có hạn, buổi nói chuyện hôm nay của chúng ta xin được tạm ngưng tại đậy Xin kính chúc quý vị một buổi chiều an lành và xin hẹn gặp lại vào thứ hai tuần tới, lúc 4pm. Xin kính chào tạm biệt.



.

No comments:

Post a Comment