Thursday, June 30, 2011

THE COMMUNIST PARTY OF CHINA (CPC) SHOULD STOP BULLYING ITS OWN PEOPLE AND ITS NEIGHBORING COUNTRIES

.

For Immediate Release
Contact: Genie Nguyen
703-593-7182
July 1st, 2011

THE COMMUNIST PARTY OF CHINA (CPC) SHOULD STOP BULLYING ITS OWN PEOPLE AND ITS NEIGHBORING COUNTRIES.


Washington, D.C, USA – Saigon, Vietnam, July 1:
On this first day of July 2011, Voice of Vietnamese Americans stands in solidarity with all Vietnamese inside and outside of Vietnam, together with all Southeast Asian Peoples represented by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), international communities represented by the United Nations (UN), to raise collective concerns on the global security threat due to the CPC’s expansion policy in the Southeast Asia Sea (South China Sea).

The CPC has shown increasing aggressions with disrespect for the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) in the Southeast Asia Sea (1982), disregarding the ASEAN Declaration on the South China Sea (1992), as well as ignoring the ASEAN Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (DOC) (2002).

China’s ships has opened fire on fishermen, cutting cables of Vietnamese surveying ships, banned fishing in the Exclusive Economic Zones belonging to Vietnam and the Philippines, and threatened to use its power to claim ownership of more than 80% of the Southeast Asia Sea. It has imposed the 9 dotted line called U shape which infringes on the sovereignty of Southeast Asian nations, disregarding all regional and international agreements China has officially signed with ASEAN and the United Nations.

While recognizing Chinese People as peace loving and hard working people, we condemn the CPC for abusing its power, under-minding traditional Chinese culture, not honoring its own signature on the UNCLOS and international treaties, and putting the Chinese people in severe conflicts with their traditional culture and with the world.

We condemn the CPC for dilemmas in the mainland China with workers having to resort to committing suicides due to social injustice, religious practitioners and Falun Gong followers being brutally persecuted, toxic foods including infant milk and other carcinogenic products being manufactured and sold to its own people, nationalism being triggered to promote aggressions toward its neighboring countries.

Repeatedly, tragedies in the South China Sea, repressions in Xinjiang, Tibet and Uyghur, following the overbearing Beijing 2008 Olympics and the unforgettable Tiananmen Square Massacre continue to raise global concerns about the CPC’s self-serving aggression toward its own people and neighboring countries.

In 2011, the Communist Party of China has openly defied the world’s consensus of human rights when it refused to recognize the global Nobel Peace Prize, awarded to Dr. Liu Xiaobo. Dr. Liu has been imprisoned for his peaceful quest for freedom of speech. The case of Dr. Liu Xiaobo represents not only 1.3 billion Chinese, but the conscience of humanity being suppressed by the CPC.

We call for the CPC to immediately stop its aggressiveness, to conform to the Charter of the United Nations, respecting international laws, human rights, protect the environment, and stop bullying its neighboring countries.

We also call for the joint forces of the United States, the European Union, ASEAN members, Asian countries such as India, Japan, Korea, and Australia, to collectively emphasize the importance of a global collaboration with zero tolerance to aggressiveness and expansionism.

We advocate saying NO to the CPC’s self-proclaimed U-shape map in the Southeast Asia Sea, and YES to the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) in resolving disputes in the Southeast Asia Sea.

We respectfully request His Excellency Ban Ki-Moon, Secretary-General of the United Nations, President Obama of the United States, President Yudhoyono of Indonesia who is the current Chair of ASEAN, the European Union, and all of the World Leaders, to urge the CPC to refrain from using force and from creating incidents in the Southeast Asia Sea.

We strongly urge the CPC to conduct multilateral dialogue with ASEAN based on the UNCLOS with the participation of global stakeholders, including India, Japan, South Korea, Australia, the European Union, and the United States.

We condemn the CPC for abusing its power to pressure small nations into submissive position in bilateral talks. All bilateral talks and agreements between the CPC and the CPV are hereby deemed unacceptable and not approved by the People of Vietnam.

The Communist Party of China should stop bullying its own people and its neighboring countries.

The Communist Party of Vietnam should stop being a vassal state to the CPC and risking Vietnam’s sovereignty.

The People of China and the People of Vietnam demand a new era of freedom, democracy, and sustainable economic growth with human rights and equal justice for all.


VOICE OF VIETNAMESE AMERICANS
IN SOLIDARITY WITH ALL VIETNAMESE
Inside and outside of Vietnam



.

Wednesday, June 29, 2011

VẤN ĐỀ CỐT LÕI TẠI BIỂN ĐÔNG HAY VIỆC HÌNH THÀNH MỘT “TRẬT TỰ ĐẠI HÁN” MỚI TẠI Á CHÂU

.

Source: http://www.diendantheky.net/2011/06/van-e-cot-loi-tai-bien-ong-hay-viec.html


Đinh Xuân Quân


Gần đây trong năm 2011 có nhiều tranh chấp tại Biển Đông (BĐ) với VN và Philippines, tàu TQ bắt giữ nhiều tàu đánh cá VN, tiến vào hải phận VN và Philippines, cho tập trận trên biển Nam Hải (tức Biển Đông) tại vùng đảo Trường Sa và gần đây nhất cắt giây cáp của tàu dò địa chất Bình Minh 02 và Viking 02. [1]

Tại cuộc họp Diễn Đàn Khu Vực các Bộ Trưởng Ngoại Giao (ARF - ASEAN Regional Forum) hay tại Hà Nội tháng 7 2010, NT Clinton tuyên bố BĐ là một quyền lợi của HK và TQ rất phẫn nộ coi việc này như chống TQ.

TQ tự coi mình có chủ quyền trên gần toàn BĐ và muốn thực thi chủ quyền này. Đây là cách nhìn từ ngàn năm đối với vai trò của TQ tại Á Châu, cái vai trò đàn anh “Đại Hán,” có quyền trên các nước nhỏ trong vùng - ai cũng phải tuân theo “mệnh lệnh của thiên triều TQ”.

Tại Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng gọi là Sangri La đầu tháng 6. 2011 tại Singapore thì TQ “có vẻ hoà hoãn” trong khi Mỹ vẫn giữ đúng nguyên tắc giải quyết các tranh chấp một cách hoàn bình, không dùng vũ lực, và dựa trên luật pháp.

Tại cuộc họp của các học giả tại Viện CSIS (Center for Strategic International Studies) ngày 20-21 tháng 6. 2011 đại diện TQ nhắc lại yêu sách về "đường lưỡi bò 9 vạch" đòi chủ quyền trên 80% Biển Đông. TQ đã khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” trên vùng biển quốc tế tại BĐ dựa trên lý do lịch sử. Đã có nhiều tranh cãi giữa các học giả nhưng không ai chấp nhận chủ quyền mà không dựa trên luật quốc tế.

Các nước ASEAN thấy sự hiện diện của Mỹ như một “trọng lực cân bằng” cho thế đang lên của TQ là cần thiết. Ngày 19 tháng 6 tại LHQ 6 nước ASEAN (Indonesia, Lào, Malaysia, Singapore, VN và Thailan) đã cùng với Philippines kêu gọi hoà bình và triệt để áp dụng luật biển UNCLOS (United Nations Convention on the Law of the Sea).

Philippines đã cầu cứu Mỹ và ngày 23 tháng 6, NT Mỹ bà Clinton đã cam kết giúp Philippines: “Lập trường của chúng tôi về Biển Nam Trung Hoa lâu nay vẫn nhất quán và rõ rệt. Chúng tôi ủng hộ một quy trình hợp tác ngoại giao giữa tất cả các nước đòi chủ quyền để giải quyết các tranh chấp của họ mà không sử dụng hoặc đe dọa vũ lực. Chúng tôi quan ngại trước các sự cố gần đây trong Biển Nam Trung Hoa khiến làm tăng căng thẳng và đặt ra các quan tâm về hòa bình và an ninh trong khu vực. Và như tôi đã nói, Hoa Kỳ, không đứng về phe nào trong các phe đòi chủ quyền về đất đai. Và như ngài bộ trưởng đã nói, chúng ta có luật pháp quốc tế, có pháp luật về biển. Cái gì thuộc về họ là của họ và sau đó cái gì đang tranh chấp sẽ được giải quyết một cách hòa bình. Tuy nhiên, nếu có nhiều người đòi chủ quyền về đất và biển, thì họ phải tôn trọng luật pháp quốc tế và làm mọi thứ có thể để cố gắng giải quyết những tranh chấp này bởi vì, cuối cùng, tranh chấp lãnh thổ phải được giải quyết bởi các bên đòi chủ quyền. Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ các sáng kiến do ASEAN dẫn đường và làm việc với các bên đòi chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa là để đáp ứng các quan tâm của họ…”

Tại sao TQ có thái độ này? Họ suy nghĩ ra sao và đòi hỏi cái gì? Các nước ASEAN có thể làm gì trong tình huống này?

Vấn đề cốt lõi tại Biển Đông hay Việc “Hình Thành Một Trật tự Đại Hán”


Hiện nay VN nói là đang có tranh chấp về vấn đề Hoàng sa và Trường sa. Trong vùng Biển Đông hiện nay, sáu nước đang tranh nhau chủ quyền: TQ, Đài Loan, VN, Malaysia, Phi luật Tân và Brunei. Tại đây một số nước đang đóng quân trên một số hòn đảo.

TQ đòi chủ quyền dựa trên “lịch sử” về cuộc thám hiểm và một số tài liệu. Họ công bố một bản đồ hình "đường lưỡi bò 9 vạch" đi từ Hải Nam đến gần Indonesia, cách lục địa hay đảo Hải Nam hàng ngàn km. VN đòi chủ quyền dựa trên các tài liệu lich sử và các tài liệu của Pháp. Philippines, Malaysia, và Brunei đòi một phần trong vùng Trường Sa dựa trên tiềm lục địa và trên EEZ - Exclusive Economic Zones (khu vực độc quyền kinh tế).

Vấn đề cốt lõi không phải chỉ là vấn đề luật biển (luật pháp) mà TQ đòi quyền kiểm soát trên gần toàn vùng biển (chính trị, kinh tế và quân sự).

TQ muốn tái lập trật tự Đại Hán?


Tất cả các nước trong vùng đều dùng luật trong tranh chấp chủ quyền vùng này trong khi TQ dùng “yêu sách chủ quyền không chối cãi,” với sức mạnh ngoại giao, kinh tế và quân sự đòi mọi nước phải công nhận chủ quyền của họ.[2] TQ “chứng tỏ chủ quyền qua các tài liệu rất mơ hồ” là họ có mặt tại BĐ từ 2000 năm nay (có liên tục hay không? Có mặt trên đảo hay không?

TQ không chứng minh được là có người ở và chiếm đóng các đảo từ lâu, ngược với điều 121 của UNCLOS (phải chứng minh là có người ở hay chiếm đóng mới có thể coi là chủ quyền của mình). Vì vậy họ không muốn bàn việc này một cách đa phương mà chỉ muốn điều đình song phương để TQ có thể “ép”.

Năm 1992, TQ cho công bố “Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” gồm 17 điều. Điều 2 của bộ luật này khẳng định phạm vi chủ quyền của TQ “trên tất cả các đảo ven biển, Đài Loan và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Điếu Ngư (Senkaku của Nhật) quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa và kể cả các đảo nhỏ khác”. Tây Sa và Nam Sa chính là quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của VN.

Điều đáng chú ý là chính quyền CSVN không hề lên tiếng phản đối.

Cách suy nghĩ của TQ là ngày xưa tất cả các nước chung quanh TQ phải “triều cống” cho TQ. Khi đảng CSTQ nắm quyền tại lục địa vào 1949 họ cũng tiếp tục cái nhìn về chính sách trước của “Thiên triều Đại Hán” [3] chiếm lại các nước nhỏ họ coi là của TQ như Tây Tạng, Tân Cương.

TQ luôn luôn coi là bị các nước Âu châu và Nhật bắt họ ký “các hiệp ước bất công” lúc triều đình nhà Thanh yếu kém. Nay TQ “trổi dậy” trở thành một cường quốc kinh tế, họ muốn thiết lập lại một “trật tự mới theo trật tự Đại Hán ngày xưa.” TQ coi là họ bị mất quyền trên 100 năm đối với các nước Đông Nam Á và nay muốn lập lại quyền trước đây của Đại Hán. Đây là cách suy nghĩ và hành xử của TQ tại Á châu hiện nay.

Trật tự Đại Hán mới được thực thi tại ĐNA hay trên thế giới qua nhiều cách: võ lực, doạ nạt, kinh tế, mua chuộc hay tất cả các thủ đoạn kể trên.

Võ lực: Việc dùng võ lực đầu tiên là cuộc chiến giữa VNCH – TQ tại Hoàng Sa vào năm 1974. Chiến tranh Việt Trung 1979 là lần thứ hai trong thời hiện đại TQ dùng võ lực đối với VN. Trong sách “On China,” Kissinger [4] cho rằng “Việc HK và TQ phải tìm đến nhau lúc đó là nhu cầu của thời điểm” … “trước sau cũng phải đến dù ai lãnh đạo, HK hay TQ”. Hai nước đang bị Liên Xô đe dọa nên thấy cần phải gác lại những căng thẳng trong chiến tranh VN và vấn đề Đài Loan để tìm tới nhau. Cả hai áp dụng nguyên tắc “kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta.” [Kissinger sai lầm to trong việc ủng hộ TQ với hậu quả là TQ ngày nay].

Buổi họp của Bộ Chính trị ĐCSVN tháng 6/1976, Đảng CSVN công khai xác định TQ là kẻ thù chính của VN. Cũng trong tháng 6/1976 VN gia nhập khối kinh tế Comecon do LX cầm đầu. Đến tháng 11/1978 VN và LX ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (Treaty of Friendship and Cooperation).

HK và TQ đồng ý thiết lập bang giao vào ngày 1/1/1979. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ trong dịp này, Đặng Tiểu Bình báo cho TT Carter biết là TQ sẽ đánh VN để chận đứng sự bành trướng của LX tại Á Châu. ĐTB thành công trong việc làm cho LX dè dặt và ngày 17/2/1979 TQ xua khoảng 300.000 quân gồm hải lục không quân, quân chính quy và địa phương quân từ các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây tiến vào VN. TQ đã trả một giá nhân mạng rất cao trong cuộc chiến 6 tuần, với hơn 50.000 binh sĩ tử trận, xấp xỉ con số tổn thất của HK tại VN từ 1964 đến 1975.

Sau đó vào năm 1988, TQ đánh chiếm một đảo trong vùng Trường Sa do VN đồn trú. Sau khi LX và Đông Âu sụp đổ, CSVN lại quay về TQ để bảo vệ “đảng” với “đồng chí anh em.” “Trật tự mới” là Hiệp-Ước Việt-Trung về biên giới và từ năm 1992 cho đến 2000, VN bị ép tái thương thuyết và ký lại hiệp định trên bờ và ngoài biển với TQ thay hiệp ước ký giữa Pháp và TQ thời 1887. [5] Hiệp định Việt –Trung “bất công” này vẫn bị nhà cầm quyền CSVN giấu không cho dân chúng VN biết.

Doạ nạt:
Trong tranh chấp Nhật –Trung về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, TQ dùng tàu đánh cá để doạ nạt Nhật.

Từ 2008 đến nay, TQ luôn luôn doạ nạt bằng cách bắt ngư dân VN, Philippines và các nước khác. Hôm 9 tháng 6, 2011, Bộ Ngoại Giao VN (BNGVN) tường thuật vụ tàu đánh cá TQ hộ tống bởi tàu Ngư chính TQ cắt cáp tầu Viking 2 ngoài khơi VN. Theo TTXVN thì tàu đánh cá TQ số 62226 có sự hộ tống của 2 chiếc tàu ngư chính 311 và 303. Trước đó thì tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp.

Theo một số báo VN 3 tàu TQ mang số hiệu 989, 27 và 28 đã tiến rất gần đến 4 tàu đánh cá của ngư dân Phú Yên bắn xuống nước đe dọa. Các tàu đánh cá của ngư dân Phú Yên câu cá ngừ đang hoạt động ở tọa độ 8 độ 56' vĩ Bắc, 112 độ 45' kinh Ðông, cách đảo Ðá Ðông thuộc quần đảo Trường Sa của VN khoảng 15 hải lý về phía Ðông Nam.

Philippines đã gởi công hàm đến sứ quán TQ và đến LHQ phản đối về việc tàu TQ bắn vào ngư dân Philippines, 6 vụ tàu TQ phạm lãnh hải và việc TQ xây dựng trên vùng biển của Philiipines. Việc này cho thấy TQ cũng đang ép Philippines về vụ thăm dò dầu khí, thi hành “yêu sách lưỡi bò” của TQ.

Kinh tế

Vào năm 2004 có Thoả ước Phillipines – TQ về việc tìm dầu khí. TT Gloria Macapagal Arroyo đã cố giữ bí mật bản thoả ước này cho phép TQ vào EEZ (Khu độc quyền kinh tế – thềm lục địa của Philippines trên 24,000 km vuông. Việc này đã gây nhiều sóng gió tại Philippines. Dân Philippines cũng như VN coi là các lãnh đạo của họ đã bị mua chuộc hay “bán lãnh thổ” cho TQ. Các trường hợp như Cambodia và Miến Điện thì TQ đã dùng kinh tế và tăng cường quân sự để có ảnh hưởng.

Ta có thể đưa ra nhiều ví dụ khác nữa. Chính sách của TQ là gì? Theo TS Carl Thayer thì “Hành động của TQ đại diện cho một làn sóng mới về sự khẳng định chủ quyền một cách hiếu chiến trên BĐ. TQ đang thiết lập một cơ sở pháp lý để chứng minh rằng họ “quản lý Biển Đông” và có quyền quản lý hành chính ở đó. Hành động của TQ rất nguy hiểm bởi vì họ không dựa trên sự hiểu biết chung về luật pháp quốc tế… Hành động của TQ chắc chắn sẽ gia tăng. Họ đang đẩy mạnh việc xây dựng tàu giám sát nhiều hơn. Và họ đã đưa giàn khoan thăm dò dầu rất lớn, nói rằng họ sẽ thăm dò trên BĐ. Từng bước một, TQ thiết lập quyền bá chủ trên vùng biển trong bản đồ lưỡi bò 9 vạch. Tuyên bố của TQ trực tiếp lấn vào các vùng đặc quyền kinh tế của VN và Philippines…”

Tóm lại hành động của TQ là áp đặt một trật tự Đại Hán tại BĐ.

Cái nhìn quan hệ quốc tế dựa trên Công Pháp quốc Tế

Từ đệ nhị thế chiến một trật tự mới đã được xây dựng trên công pháp quốc tế - qua LHQ. Cái nhìn quan hệ quốc tế dựa trên công pháp quốc tế khác hẳn với cái “trật tự kiểu Đại Hán.”

Các nước ĐNA dành được độc lập từ các nước Âu châu và cách nhìn chịu ảnh hưởng bởi luật pháp chứ không phải những mệnh lệnh theo kiểu “Thiên Triều.” Nếu TQ thành công trong việc áp đặt “trật tự đại hán” thì sẽ có vấn đề sau đây tại BĐ:

 Không có tự do hàng hải, và thương thuyền phải theo luật của TQ – dưới quyền kiểm soát và trật tự TQ.
 Các nước trong vùng không được tự do đánh cá và mất quyền khai thác tài nguyên.

Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thailan lập khối ASEAN vào 1967 với căn bản là “tôn trọng độc lập, công nhận chủ quyền và lãnh thổ” và sau 1975 đã nhận thêm các nước như Brunei, Myanmar, Kampuchia, Lào và VN nhằm phát triển kinh tế.

Hiện các quốc gia này đang tăng ngân sách quân sự trước nguy cơ TQ. Malaysia mua nhiều tàu ngầm Pháp và may bay của Nga trong khi nhiều nước khác cũng tăng trong việc mua quân cụ: Thailan tăng cường không quân. VN, và Indonesia tăng cường hải quân và không quân với trang bị của Nga trong khi Singapore mua của nhiều nước Tây phương.

Quân lực ASEAN khá nhưng không thể so sánh với TQ, hơn nữa, không có một hiệp ước quân sự giữa các nước ASEAN với nhau.

Các nước ASEAN chỉ muốn một sự hiện diện thông thường – đều đặn của hải quân HK để cân đối với mối đe doạ của TQ nhưng họ hoan nghênh đầu tư kinh tế của TQ. Ngày 19/6/2011 lần đầu tiên 7 nước (trên 10) dưới sự thúc giục của Philippines đã kêu gọi hoà bình cho BĐ theo Công ước quốc tế về luật Biển (UNCLOS).

TẠM KẾT

Có hai cách nhìn về BĐ. Cái nhìn của TQ là yêu sách “lưỡi bò 9 vạch.” Vì kinh tế và vì dầu khí cho nên TQ đang cố gắng áp đặt một “trật tự kiểu thiên triều Đại Hán” khẳng định BĐ thuộc về họ. Tại hội thảo quốc tế CSIS thì đa số chuyên gia đều cho là không có căn cứ pháp lý vì không dựa trên Công Ước LHQ (UNCLOS). Việc thiết lập quyền bá chủ tại BĐ theo bản đồ đường lưỡi bò được coi như việc thiết lập “một trật tự mới kiểu Đại Hán” khi TQ muốn ngăn VN và Philippines khai thác các nguồn tài nguyên tại BĐ.

Mỹ và ASEAN có cái nhìn khác – dựa trên luật.
Các nước ASEAN chưa nhất quán trong vấn để cư xử với TQ. Họ chưa có thể trông vào sự can thiệp mạnh mẽ của HQ Mỹ nhất là nếu họ chưa lên tiếng. Vừa rồi 7 nước ASEAN đã làm bước đầu tiên kêu gọi hoà bình tại BĐ dựa trên công pháp quốc tế - trên UNCLOS. Đây là biểu hiện mới mẻ của ASEAN đi lại gần Mỹ. Hơn nữa chính phủ Philippines đã cầu cứu Mỹ, Ngoại trưởng nước này đã viếng thăm Washington và được Mỹ ủng hộ một cách tích cực (vì có thoả ước quân sự với Mỹ).

Việc thực thi một “Trật Tự kiểu Đại Hán” khó thành công vì ngày nay thế giới ở trong môi trường Pháp trị, có LHQ và có những luật ràng buộc các nước với nhau. Tóm tắt khuynh hướng chung của thế giới:

 No to U (nói KHÔNG đối với yêu sách lưỡi bò – 9 vạch)
 Yes to UNCLOS (ủng hộ áp dụng công pháp quốc tế tại BĐ)

Dù sao các nước ASEAN cũng cần phải tăng cường khả năng quân sự của họ theo nguyên tắc “Muốn Hoà Bình phải sửa soạn chiến tranh.”

Ngoài ra Mỹ phải nhắc nhở TQ là có luật lệ quốc tế và ai cũng phải thương thuyết theo các tiêu chuẩn quốc tế đó. Chính sách ngoại giao Mỹ dưới thời Kissinger (làm bạn với TQ để bao vây LX) nay có thể đảo lại: chính TQ sẽ là nước bị bao vây nếu tiếp tục chính sách “Trật tự kiểu Đại Hán”. Việc thiết lập quyền bá chủ trên các đảo tại BĐ theo bản đồ đường lưỡi bò sẽ được coi như việc thiết lập “một trật tự mới kiểu Đại Hán” khi TQ muốn ngăn VN và Philippines khai thác các nguồn tài nguyên tại BĐ.

Trong vụ tranh chấp Việt-Trung, VN có kêu gọi Mỹ vào giúp giải quyết. Hiện nay có nhiều trao đổi giữa hai quân đội Mỹ-Việt. Nhưng trong việc theo đuổi, tăng cường quan hệ với ĐNÁ và bảo vệ quyền lợi hàng hải của mình, Mỹ phải gánh cơn thịnh nộ của TQ tại Diễn Đàn Khu Vực các Bộ Trưởng Ngoại Giao tại Hà Nội tháng 7 năm ngoái.

Theo nhà nghiên cứu R. Pierson [7] thì “mặc dù VN nhiệt tình chào đón các tàu HQ Mỹ, hay việc tham gia ‘Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương - Trans Pacific Partnership’, một diễn đàn được Washington ưa chuộng, chứng tỏ VN mong muốn hội nhập chánh trị và kinh tế rộng lớn hơn. Nhưng VN vẫn tiếp tục có những hành động đối nội mà giới quan sát Mỹ không ưa khiến cho mối quan hệ mật thiết VN mong muốn, trở nên bất khả thi về chánh trị, và không thể chấp nhận được về mặt đạo đức, … như tiếp tục đàn áp các nhà lãnh đạo chánh trị, xã hội và tôn giáo; gia tăng truy tố và xử tội nặng những nhà bất đồng chánh kiến VN, cũng như tiếp tục duy trì cấm đoán chặt chẽ trên mạng Internet, truyền thông và báo chí, khiến cho VN khó có thể được chấp nhận trọn vẹn bởi chánh quyền Obama. Tất cả những điều này có nghĩa là VN cần phải dấn bước mạnh mẽ hơn….” Các việc này cho thấy còn nhiều giới hạn trong quan hệ Mỹ-Việt. Nhưng vậy nếu có đánh nhau với TQ thì chưa chắc Mỹ sẽ can thiệp trực tiếp giúp VN. Chính quyền CSVN cần thay đổi rất nhiều và rõ ràng nếu muốn được sự ủng hộ của cộng đồng thế giới và của Mỹ.

TS DXQ

1/ Bài cùng tác giả “Trong tranh chấp ảnh hưởng tại Biển Đông VN có thể làm gì?” Diễn Đàn Thế Kỷ www.diendantheky.net
2/ Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, “Jurisprudential Evidence to Support China’s Sovereignty over the Nansha Islands” (2000).
3/Giovanni Andornino, “The Nature and Linkages of China’s Tributary System under the Ming and Qing Dynasties,” Global Economic History Network working paper 21 (2006).
4/ Trong sách của TS Kissinger “On China” Chap. 13
5/ Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of Tonkin,” Ocean Development & International Law 36 (2005).
6/ Phỏng vần TS Carl Thayer trên tờ Người Việt ngày …
7/ Xem “The Limits to US-Vietnam Ties”của Richard Pierson Ngày 16/6/2011`


.

The Philippines and the United States: A Dynamic Alliance

.




Source: CSIS - http://cogitasia.com/videophilippine-foreign-secretary-del-rosario-lease-at-csis/#more-1527

Video: Philippine Foreign Secretary Del Rosario Announces Intention to Lease American Ships at CSIS
Jun 24th, 2011
by admin.

The Philippines’ new Foreign Secretary, Albert Del Rosario, is as sure footed in the highly polished halls of Washington, DC has he is in the fast moving corridors of power in Manila. Only two months into his role, he has worked with his President, Benigno “Noynoy” Aquino III, to focus Philippine foreign and national security policy. Personifying the determination of Manila not to stand by while China pushes maritime sovereignty issues, Del Rosario spoke at the prestigious CSIS Banyan Tree Leadership Forum yesterday, announcing his government’s interest in leasing equipment from the United States to rapidly modernize the Philippine Navy.

This major policy announcement comes at a tense time in Chinese-Philippine relations, with both countries sending warships into disputed waters in the South China Sea. Responding to the announcement at CSIS later in the day, Secretary of State Hillary Clinton told reporters “We are determined and committed to supporting the defense of the Philippines,” which is one of five treaty allies of the United States in East Asia. Secretary Del Rosario’s full speech follows below:

Update: The full transcript of the Secretary’s remarks, as delivered, follows below:

Thank you, Ernie, for the generous introduction and the very warm welcome.

Ladies and gentlemen, it is good to be back in Washington DC, as a visitor now, after having been in residence here from 2001 to 2006. When I left Washington DC in 2006, the country was in the midst of wars in Iraq and Afghanistan, and the government had just announced its plan to renew ties with Libya. China was criticizing the US for overreacting to North Korea’s launching of missiles, and Secretary of Defense Rumsfeld stepped down that year, to be replaced by a former CIA head.

I return to a Washington DC well on its way to bringing home its troops from Iraq and Afghanistan. The Arab Spring has redrawn the diplomatic map of the US relations with the Middle East, and we are hearing the very significant results of the US engagement with China on the strategic level. Coincidentally, another CIA Chief is set to become the Secretary of Defense.

Our country and our people have undergone a sea of change in that time. President Benigno S. Aquino III, son of two of the Philippines’ democratic icons, was swept into the Presidency with the undisputed mandate of the Filipino people. When he assumed the Presidency, he stated that “our foremost duty is to lift the nation from poverty through honest and effective governance.” In pursuit of this commitment, he has entered into a social contract with the Filipino people, and set out an agenda for national development and good governance.

This social contract underpins the three pillars which will continue to define the course of our foreign relations – promoting national security, enhancing economic diplomacy, and protecting the rights and welfare of Filipinos overseas. Anchored on these pillars, we have crafted a foreign policy that is focused and deliberate; a foreign policy that advances our domestic interests, fully cognizant of our commitment to our core values, and our responsibilities to the region and the world.

Economic diplomacy is among our most important tools in achieving the twin goals of poverty alleviation and job creation, and my Department will be more aggressive in engaging with our traditional economic and commercial partners.

Yet we are aware that the success of our economic diplomacy relies on our capacity to create a good investment climate in the country, both internally and externally. Within the country, we are taking the necessary measures to build an economy anchored on transparent, stable and predictable policies that create a domestic condition attractive to foreign investors. To address the concerns of investors, we have initiated a Public Private Partnership Program that will modernize our infrastructure. We have also fostered the conditions for peace, particularly in the southern parts of the Philippines.

Externally, we continue to develop stronger bilateral relations and pursue cooperation with our multilateral partners to build a safe and secure environment not only within the bounds of our territory, but also regionally and globally.

ASEAN continues to be a cornerstone in this endeavor as it moves closer to building an ASEAN community by 2015.

We will also build upon our strong defense partnership with the United States, and will engage China, India, Japan and other regional partners such as the Republic of Korea, Australia, and New Zealand in mutually beneficial security and defense dialogues.

We are also stepping up our cooperation and interaction with the countries in the Middle East and North Africa, and the Organization of the Islamic Conference, in resolving the Mindanao conflict.

As we work on creating more jobs at home, we remain mindful of the President’s call “to be even more responsive to the needs and welfare of our overseas Filipino workers.” We will continue to do what is necessary to send the clearest signal that the Philippine government cares for its people wherever they are. Protecting the rights and promoting the welfare of OFWs will continue to be strong pillar of our foreign policy.

So how does the Philippine-US alliance figure in our foreign policy?

When I served as Philippine Ambassador the United States, my worldview put the US Philippines alliance at the center of the universe. Coming back wearing a different hat, I am constrained to make adjustments to that perspective.

To be sure, the United States remains the Philippines’ foremost strategic ally. Our relations are enduring, cemented by the sacrifices of those who fought side by side in defense of our common ideals.

The United States is one of the Philippines’ top two trading partners. Two-way U.S. merchandise trade with the US was at $15.4 billion in 2010, and 11% of our imports are sourced from the United States. On the other hand, 15% of our exports find its way to the American market. With our population of over 90 million people, we are the US’ 30th-largest export market.

The US is also important to the Philippines in terms of official development assistance. Since 2004, the Government received close to $1 billion in grant funds for various programs to support economic growth and alleviate poverty; strengthen democratic institutions and governance; and counter transnational terrorism and insurgency in Mindanao.

Strong people to people ties strengthen the fabric of our relations. The 2010 census indicates that some 2.5 million Filipinos live in the United States. The US Embassy in Manila on the other hand, estimates that some 300,000 Americans make their home in the Philippines.

Our common commitment to the ideals of democracy provides another underlying thread that fortifies the fabric of our relations. Despite the network of old and new relations the US has established in the region, it is difficult to imagine any other country who will share as closely with the US the same set of core values and beliefs as the Philippines, and is as committed to the defense and pursuit of these values.

Thus, for many years, the Philippines and the United States have soldered on, confident in the strength of our alliance.

Yet the global and regional environment on which we built our alliance did not stand still. It has developed in ways we did not and could not imagine in the 1940s or even when the Cold War ended.

The new global and regional architecture demands of each country an introspective assessment of how it relates to the rest of the world.

In the post 2001 world for example, security relations between the Philippines and the United States have been focused heavily on counter terrorism cooperation, and this cooperation has undoubtedly borne much fruit for both countries. But the Philippines’ relative success in counter insurgency, coupled with pressures in the regional environment, compels a reorientation of focus and resources.

On the other side of the Pacific, we observe the US renewing its engagement with Asia in very substantive ways, after what has been perceived as a long preoccupation with the Middle East. We also see that fiscal pressures may impact certain aspects of US defense and foreign policies, requiring policy makers to explore new and creative ways of doing more for less, at a time of growing challenges in various parts of the world.

The recent slump in the global economy has taught both our countries invaluable lessons, and the intense competition for markets and resources are cause for common concern. In an increasingly interdependent global economy, we need to ensure we are well positioned to leverage our relations to produce more trade, more employment and generally a better life for our people.

A reset in the relations has therefore become an imperative, to allow the alliance to continue to meet domestic goals, while contributing to global stability.

The intersection between our respective domestic imperatives and the current regional and global challenges indicate a momentum for a mutually beneficial recalibration and reset of Philippine US bilateral relations.

We welcome the pronouncements made by the United States on their renewed engagement with Asia and on the importance of the relations with the treaty allies. Allow me to share with you our own vision for the US continued presence in Asia.

The US presence in Asia has been long standing, and we want it to endure. We want it to be premised on a deep seated recognition of the US role as an Asia Pacific power, rather than a reaction to perceived challenges to its global leadership.

We want the US presence in Asia to build cooperation, rather than it being misconstrued as fermenting divisions. We believe that Asia is in the midst of unprecedented growth and the most serious of challenges. We believe we can best harness these opportunities for growth and address the challenges with unity of purpose, underpinned by a strong rules based international system.

We recognize the potential of the alliance to be an enabler for the growth of the region, in terms of security, the economy and people to people connections. In our current role as country coordinator for ASEAN US Dialogue relations, we are committed to help the US secure its equitable place in the ASEAN-centered regional architecture.

We believe this is also the time to recast the model of our security engagement. The military tenets of the Cold War are no longer valid, and the physical presence of military bases is no longer the foundation of a robust security arrangement. To be clear, we do not expect the US to fight our battles for us, but we count on the US strong and unwavering assistance in building the strength and resources of the Philippine military to meet the new challenges. To this end, we are exploring novel and innovative ways to strengthen the security engagement, in ways that will address the challenges but respect the constraints of each other’s domestic environment.

The Philippines is well aware that the alliance is only as strong as the commitment and resources which both countries are prepared to commit for the pursuit of our common goals.

On our part, the Philippines is prepared to step up to our responsibilities to contribute to the security and stability of the region, first and foremost, by being able to secure and protect our own territory. Our defense establishment is thus working to improve our capabilities to police and patrol our own maritime domain. The campaign against transnational crime, including piracy, drug trafficking and human trafficking, is also being sustained.

We are prepared to take our place in the global supply chain, leveraging the skills and talents of our people, and showcasing an economy where everything works. We resolve to create the best possible environment for businesses to thrive, free from corruption. We will also continue to explore opportunities for mutually beneficial economic linkages, such as the SAVE our Industries Act, which Sen Daniel Inouye re-filed yesterday at the U.S. Senate.

The new model should also embrace a development dimension. The Partnership for Growth is a joint undertaking between the Philippines and the US whose principal aim is to unlock the Philippines’ potential “for a broad based and sustained economic growth”. As the only pilot country in Asia, the Philippines was selected on the basis of its track record in partnering with the US government and potential for continued economic growth.

We are prepared to assume a more active role in crafting the policy environment of the region, and in building stronger networks of cooperation among regional powers, through bilateral arrangements and through the mechanisms of ASEAN. We intend to lend our voice and the force of our convictions to the issues that define us – the protection and promotion of the rights of our citizens, the establishment of the institutions of democracy, and the peaceful settlement of disputes.

A few weeks ago, I have advocated for the pursuit and promotion of a rules-based international system, which will provide an effective tool for peaceful and fair resolution of disputes.

Not since the Panganiban (Mischief) Reef incident in 1995 has the Philippines faced serious challenges in the West Philippine Sea, otherwise known as the South China Sea (SCS). For instance, our ownership of the Kalayaan Island Group (KIG) features and our legitimate maritime jurisdictions have been contested by certain nations, even as the Philippines’ sovereignty and jurisdiction over the KIG are firmly grounded on international law.

The primacy of international law, particularly the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), is the cornerstone on which we define and protect our territory and maritime entitlements in the SCS. It is this principle and the requirements of UNCLOS that governed the passage in 2009 of the Philippine Archipelagic Baselines Law (R.A. 9522). It is also the same principles that underpin the two vital pieces of proposed legislation defining our maritime zones and archipelagic sea lanes.

In the same manner, we are fully committed to the spirit and letter of the 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea between ASEAN and China, and will utilize all diplomatic means at our disposal to work for a binding regional code of conduct.

To reinforce this goal, we offered a framework that transforms the SCS from an area of dispute to a Zone of Peace, Freedom, Friendship, and Cooperation (ZoPFF/C) by a segregation of disputed relevant features from the undisputed waters of the SCS consistent with UNCLOS. In the words of President Aquino, ZoPFF/C is a modality for ensuring that “what is ours is ours, and with what is disputed, we are willing to work towards joint cooperation.”

There should be no room for discourse on what are clearly internal waters. The disputed features, on the other hand, can be transformed into a Joint Cooperation Area for joint development and the establishment of a marine protected area for biodiversity conservation under ZoPFF/C.

We are confident that ZoPFF/C represents an important contribution to securing peace, stability and progress in the SCS within a rule-of-law framework, and that the concept deserves serious and favorable consideration by countries with stakes in the SCS.

The Philippines’ policy in the SCS, both with respect to securing its terrestrial and maritime domain and to advocating dispute resolution and joint cooperation where applicable, is grounded on an unwavering adherence to international law. Since international law must be observed, it behooves the Philippines to embrace this imperative to the fullest.

Ladies and gentlemen,

The immutable forces of geography have predestined for our countries a shared history; but it is the choices we have made through the years that has allowed our relations to evolve and to endure. As we stand at important crossroads, we are called upon again to reshape our engagement in a way that will allow it to meet our mutual needs, and grow beyond our expectations.

I firmly believe in the strength of our alliance, and more so in the dynamism of the ties that bind us. By the grace of God, and with the determination of our governments and people, I am confident that we can provide a new impetus to our relations, which will propel us towards our shared aspirations for peace, prosperity and progress.

Thank you very much.


.

Tuesday, June 28, 2011

U.S. Senate Unanimously “Deplores” China’s Use of Force in South China Sea

.
http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/06-27-2011.cfm?renderforprint=1



Press Releases
U.S. Senate Unanimously “Deplores” China’s Use of Force in South China Sea


June 27, 2011

Washington, DC—The U.S. Senate today unanimously approved a resolution deploring the use of force by China in the South China Sea and calling for a peaceful, multilateral resolution to maritime territorial disputes in Southeast Asia. Senator Jim Webb (D-VA), chair of the Senate Foreign Relations East Asian and Pacific Affairs Subcommittee, introduced the resolution on June 13 along with subcommittee ranking member James Inhofe (R-OK). Senators Joseph Lieberman (D-CT) and Daniel Inouye (D-HI) are original cosponsors.

On June 9, three Chinese maritime security vessels ran into and disabled the cables of a Vietnamese exploration ship, the Viking 2, in an area within 200 miles of Vietnam’s continental shelf and recognized under international law to be within Vietnam's Exclusive Economic Zone. This followed similar incidents on May 26 near Vietnam and in March near the Philippines, as well as incidents at sea last year in the Senkaku Islands, which are under the legal administration of Japan. Following international condemnation of the June 9 incident, China deployed its largest maritime security ship to the South China Sea. Several other countries in the region have also deployed military vessels to the area.

“A growing number of nations around the South China Sea are now voicing serious concerns about China’s pattern of intimidation. These nations include Vietnam and the Philippines, as well as countries such as Singapore that do not have a stake in the territorial disputes,” said Senator Webb. “This is a significant development toward fostering a multilateral approach to resolve these territorial disputes in a peaceful manner, respecting the sovereignty of all claimants.”

“The United States has a clear strategic interest in facilitating such a multilateral approach, ensuring open access to international waters and air space, and promoting adherence to international law,” said Senator Webb.

The resolution passed by the Senate today:
(1) reaffirms the strong support of the United States for the peaceful resolution of maritime territorial disputes in the South China Sea, and pledges continued efforts to facilitate a multilateral, peaceful process to resolve these disputes;

(2) deplores the use of force by naval and maritime security vessels from China in the South China Sea;

(3) calls on all parties to the territorial dispute to refrain from threatening force or using force to assert territorial claims; and

(4) supports the continuation of operations by the United States Armed Forces in support of freedom of navigation rights in international waters and air space in the South China Sea.

Senator Webb has expressed concerns over sovereignty issues in this region for more than fifteen years. His first hearing upon assuming chairmanship of the Senate Foreign Relations East Asian and Pacific Affairs Subcommittee was on maritime territorial disputes and sovereignty issues in Asia in July 2009.

Senator Webb has worked and traveled throughout East Asia and Southeast Asia for more than four decades—as a Marine Corps Officer, a defense planner, a journalist, a novelist, a senior official in the Department of Defense, Secretary of the Navy, and as a business consultant. On his most recent trip to the region in April 2011, he met with government officials, business leaders and U.S. diplomats and military commanders in Japan, South Korea, Vietnam, and Guam.


The text of S.Res.217 is below:


Title:
Calling for a peaceful and multilateral resolution to maritime territorial disputes in Southeast Asia.

Whereas, on June 9, 2011, 3 vessels from China, including 1 fishing vessel and 2 maritime security vessels, ran into and disabled the cables of an exploration ship from Vietnam, the VIKING 2;

Whereas that use of force occurred within 200 nautical miles of Vietnam, an area recognized as its Exclusive Economic Zone;

Whereas, on May 26, 2011, a maritime security vessel from China cut the cables of another exploration ship from Vietnam, the BINH MINH, in the South China Sea in waters near Cam Ranh Bay;

Whereas, in March 2011, the Government of the Philippines reported that patrol boats from China attempted to ram 1 of its surveillance ships;

Whereas those incidents occurred within disputed maritime territories of the South China Sea, including the Spratly Islands, composed of 21 islands and atolls, 50 submerged land atolls, and 28 partly submerged reefs over an area of 340,000 square miles, and the Paracel Islands, a smaller group of islands located south of China’s Hainan Island;

Whereas China, Vietnam, the Philippines, Taiwan, Malaysia, and Brunei have disputed territorial claims over the Spratly Islands, and China and Vietnam have a disputed claim over the Paracel Islands;

Whereas the Government of China claims most of the 648,000 square miles of the South China Sea, more than any other nation involved in those territorial disputes;

Whereas, in 2002, the Association of Southeast Asian Nations and China signed a declaration on the code of conduct of parties in the South China Sea;

Whereas that declaration committed all parties to those territorial disputes to “reaffirm their respect for and commitment to the freedom of navigation in and overflight above the South China Sea” and to “resolve their territorial and jurisdictional disputes by peaceful means, without resorting to the threat or use of force”;

Whereas the South China Sea contains vital commercial shipping lines and points of access between the Indian Ocean and Pacific Ocean;

Whereas, although not a party to these disputes, the United States has a national economic and a security interest in ensuring that no party uses force unilaterally to assert maritime territorial claims in East Asia;

Whereas, in September 2010, the Government of China also deliberately provoked a controversy within the waters of the Senkaku Islands, territory under the legal administration of Japan in the East China Sea;

Whereas the actions of the Government of China in the South China Sea have also affected United States military and maritime vessels transiting through international air space and waters, including the collision of a fighter plane of the Government of China with a United States surveillance plane in 2001, the harassment of the USNS IMPECCABLE in March 2009, and the collision of a Chinese submarine with the sonar cable of the USS JOHN MCCAIN in June 2009;

Whereas, like every nation, the United States has a national interest in freedom of navigation and open access to the maritime commons of Asia;

Whereas the Government of the United States expressed support for the declaration by the Association of Southeast Asian Nations and China in 2002 on the code of conduct of parties in the South China Sea, and supports a collaborative diplomatic process by all claimants for resolving the various territorial disputes without coercion;
Whereas the United States has a national interest in freedom of navigation and in unimpeded economic development and commerce;

Whereas, on October 11, 2010, Secretary Gates maintained “The United States has always exercised our rights and supported the rights of others to transit through, and operate in, international waters.”;

Whereas, on June 3, 2011, at the Shangri-La Dialogue in Singapore, Secretary Gates stated that “[m]aritime security remains an issue of particular importance for the region, with questions about territorial claims and the appropriate use of the maritime domain presenting on-going challenges to regional stability and prosperity”;
Whereas, on June 4, 2011, at the Shangri-La Dialogue, Liang Guanglie, the Defense Minister from China, said, “China is committed to maintaining peace and stability in the South China Sea.”;

Whereas, on June 11, 2011, the Government of Vietnam held a live-fire military exercise on the uninhabited island of Hon Ong, 25 miles off the coast of Vietnam in the South China Sea; and

Whereas, on June 11, 2011, Hong Lei, the Foreign Ministry spokesman of China, stated, “[China] will not resort to force or the threat of force” to resolve the territorial dispute: Now, therefore, be it
Resolved, That the Senate—

(1) reaffirms the strong support of the United States for the peaceful resolution of maritime territorial disputes in the South China Sea, and pledges continued efforts to facilitate a multilateral, peaceful process to resolve these disputes;

(2) deplores the use of force by naval and maritime security vessels from China in the South China Sea;

(3) calls on all parties to the territorial dispute to refrain from threatening force or using force to assert territorial claims; and

(4) supports the continuation of operations by the United States Armed Forces in support of freedom of navigation rights in international waters and air space in the South China Sea.


###


.

VVA Radio Message Monday June 27

.

http://vietnam-radio.com/Tuan%20Nay/LapPhapCongDong.mp3

This audio file is only good till July 5. Please download if you would like to keep for reference. Thank you.

Sunday, June 26, 2011

VVA Radio Message June 22 - Maritime Security in the Southeast Asian Sea ( South China Sea) - Part 2 (conference hosted by CSIS)

.





http://vndcradio.com/dai/ct/lapphapcongdong.mp3

VVA Radio message is in Vietnamese. This audio file is only in effect till June 30, 2011. The news is reported by Voice of Vietnamese Americans' reporter attending the conference. Related news can be found in the links below

References:

http://csis.org/event/maritime-security-south-china-sea

http://csis.org/publication/quintessential-test-asean-centrality-changing-paradigm-south-china-sea

http://csis.org/node/30707/multimedia


Senator John McCain (R-AZ) urged Senate action on the UN Convention on the Law of the Sea at a two-day conference on maritime security in the South China Sea hosted by Ernie Bower, director of the CSIS Southeast Asia Program. During his keynote address, Sen. McCain called China’s aggressive territorial claims in the South China Sea troubling. He warned, however, that the United States should chttp://www.blogger.com/img/blank.gifontinue working toward better relations with China.

Sen. McCain pointed to the economic and strategic importance of U.S. engagement in Southeast Asia, stressing the need to maintain regional balance, preserve freedom of navigation, and support the rules based international system. He urged President Obama and other U.S. leaders to reject isolationist withdrawal and maintain investments in naval defense. Sen. McCain said the United States should support a stronger ASEAN to help resolve problems in the South China Sea.

http://csis.org/node/30707/csis_in_the_news

US ready to arm Philippines amid China tension
US ready to arm Philippines amid China tension

Lachlan Carmichael and Shaun Tandon, AFP News
Jun 23, 2011
Defense and Security, International Security, Military Strategy,http://www.blogger.com/img/blank.gif Global Strategy
China, South Asia, Southeast Asia


East Sea: Minor moves may become a big deal?

Hoang Phuong, VietnamNet
Jun 23, 2011
International Security, Military Strategy, Global Strategy
South Asia, Southeast Asia

.

Thursday, June 23, 2011

STATEMENT OF VIETNAMESE YOUTH AGAINST CHINA AGGRESSIONS

FOR IMMEDIATE RELEASE
June 13, 2011

STATEMENT OF VIETNAMESE YOUTH AGAINST CHINA AGGRESSIONS


Union of North American Vietnamese Student Associations
United Vietnamese Student Associations of Northern California
Union of Vietnamese Student Associations of Southern California
Union of Vietnamese Student Associations of the Midwest
Mid-Atlantic Union of Vietnamese Student Associations
Southwest Union of Vietnamese Student Association
University of Florida Vietnamese Student Associations
Vietnamese American Youth Alliance of San Diego
Len Duong International Vietnamese Youth Network
PhanBoiChau Youth for Democracy
Vietnamese Young Marines


Garden Grove, CA– Today, the Union of North American Vietnamese Student Associations, the United Vietnamese Student Associations of Northern California, the Union of Vietnamese Student Associations of Southern California, Union of Vietnamese Student Associations of the Midwest, Mid-Atlantic Union of Vietnamese Student Associations, Southwest Union of Vietnamese Student Associationsthe Vietnamese American Youth Alliance of San Diego, PhanBoiChau Youth for Democracy, Len Duong International Vietnamese Youth Network, and the Vietnamese Young Marines issued a collective statement in response to the aggressive actions by the People’s Republic of China in Vietnamese territorial waters and exclusive economic zone.

On May 26, 2011, Chinese naval patrol boats illegally entered Vietnamese waters and attacked Vietnamese oil-exploration and seismic surveying ships 120km off of Vietnam’s south-central coast. This was a serious violation of Vietnamese sovereignty and a show of Chinese aggressive actions in the East Sea. In recent years, Chinese patrol ships have also illegally captured, attacked, and in some cases, killed Vietnamese fishermen who were fishing within the Vietnamese territorial waters and exclusive economic zone.

On June 5, 2011, thousands of Vietnamese youth throughout Vietnam took to the streets of Hanoi and Saigon to protest Chinese aggressive and unacceptable behaviors. Their voice has been heard by all Vietnamese people around the world and the international community.

Following the June 12, 2011 rally, once again hundreds of people gathered in Hanoi and thousands of people continued to protest in Saigon. In the demonstrations this time, many professors, intellectuals, writers, and artists joined in the protest. Groups of protesters came before the Chinese embassy, chanting anti-Beijing, flaring up banners, and chanted patriotic songs as police attempted to increase their security forces to push the protestors out of the park.

Facing the unacceptable behaviors of China and the threats to Vietnamese sovereignty, we, Vietnamese youth and organizations representing the Vietnamese American youth community and beyond, hereby issue the following:

We condemn Communist China’s aggressive actions in the East Sea.
We demand an end to Communist China occupation of Vietnam’s Spratly (Truong Sa) and Paracel (Hoang Sa) islands.
We demand Communist China to respect Vietnam’s sovereignty and cease all actions violating Vietnamese territorial lands and waters.
We demand Communist China to stop the illegal capturing and shooting of Vietnamese fishermen fishing within Vietnamese territorial waters and exclusive economic zone.

Furthermore, we condemn the weak and incompetent response of the Communist Government of Vietnam in protecting its own citizens the Vietnamese territorial waters against Communist China as well as the Communist police forces’ attempt to suppress the Vietnamese people’s patriotic rallies in Hanoi and Saigon.

We join in solidarity with our Vietnamese brothers and sisters, students, and all patriotic youth of Vietnam in standing up against China’s aggressive actions and disturbing the peace in the East Sea.

We also urge the international community to act upon these violations that China has committed and take appropriate actions in supporting the people of Vietnam.

In Solidarity,

Dan Huynh
President, uNAVSA
www.uNAVSA.org

Justin Nguyen
President. UVSA Nor Cal
www.NorCalUVSA.org

Billy Le
President, UVSA So Cal
www.UVSA.org

Sam Huynh
President, PBCYD
www.DTNPBC.org

Nikki Lam
President, VAYA
www.VAYASD.org

Diedre Thu-Ha Nguyen
Vietnamese Young Marines
www.tqlcvn.org

Nero Nguyen
President, Mid-Atlantic UVSA
www.mauvsa.org

Phong Nguyen
President, Southwest UVSA
www.swuvsa.org

Quoc Phan
Len Duong Youth Network
www.LenDuong.net

Chan Huynh
President, UVSA-Midwest
www.uvsamidwest.org

Long Nguyen
President, University of Florida VSA
www.ufvso.com

THE QUINTESSENTIAL TEST OF ASEAN CENTRALITY: CHANGING THE PARADIGM IN THE SOUTH CHINA SEA

June 21, 2011

By Ernie Bower, Senior Adviser and Director

Southeast Asia Program

CSIS


Ironically, the South China Sea physically connects a majority of the nations in East Asia and at the same time divides them. No country concerned with promoting peace and prosperity in the Asia Pacific has the luxury of turning away from this riddle. In fact, the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), the self-proclaimed center of new regional security and trade architecture, faces a historic challenge in this context. It must lead in converting the South China Sea from the sea of potential conflict to waters that bind and propel Asian prosperity.

ASEAN has the strategic position to drive this change, but it will take new levels of political courage and coordination, institutionalization of regional structures, and unprecedented levels of proactive diplomacy. ASEAN’s responsibility is clear. It is the glue that binds key actors together, either through direct membership or via regional structures such as the ASEAN + 1, ASEAN + 3, ASEAN Regional Forum (ARF), ASEAN Defense Ministers Meeting Plus (ADMM+), the East Asia Summit (EAS), and the Asia Pacific Economic Cooperation (APEC) forum.

The South China Sea is vital not only to ASEAN, but to global stability and economic growth. It is home to vital sea-lanes of navigation that enable more world trade than any other body of water. It also is home to navies that will dominate the world’s oceans for the rest of the twenty-first century. Finally, it contains key assets, from its marine life to its natural resources needed to fuel the economic engine of Asian Pacific growth.

Currently, tensions in these vital waters are extremely high. China is asserting historical and arcane legal claims, which it says it is interpreting as defining its “indisputable sovereignty” over the South China Sea defined by a very aggressive 9- or 10-dot line that runs to the beachfront of its neighbors’ land masses. Other countries have disputes—some bilateral, others multilateral—over various other parts of the sea.

In addition, the United States and other nations have asserted their interests in freedom of navigation and resolution of disputes both maritime and territorial.

Recommendations for resolving the conflict and converting the South China Sea from a pool of troubles and danger to one of opportunities revolve around ASEAN and can be seen as a real test of whether ASEAN’s centrality is a strategic framework that can promote peace and economic stability—and therefore strong growth—in Asia. The purpose of this note is to explore some of these recommendations:

Enhance predictability and transparency. Confrontation and conflict arise when countries are unclear about one another’s needs and intentions. ASEAN can promote confidence building and develop trust by using the ADMM+, ARF, and the EAS to encourage member countries to share and discuss security and defense strategies (e.g., standardize the practice, shared by some in the region, of publishing defense planning white papers).

Invest in Track 2 diplomacy. Given the stakes in the South China Sea, current levels of track 2 and track 1.5 diplomacy are at prehistoric levels, particularly in ASEAN. All interested countries should invest in a paradigm-changing level of dialogue on the South China Sea and seek to promote and enhance these discussions to illuminate policy-level discussions in official regional forums such as ARF, ADMM+, and EAS.

Strengthen ASEAN institutions. ASEAN members have purposely underfunded and understaffed the ASEAN Secretariat to ensure no trespassing on their sovereign concerns. However, as the South China Sea and other regional conflicts and the pace of regional economic integration clearly indicate, it is time to move to the next level and strengthen ASEAN to promote security and economic growth.

Commit to meaningful dialogue and diplomacy. ASEAN will set the agenda for the most important regional institutions capable of dealing with the South China Sea challenges—namely ARF, ADMM+, and EAS. ASEAN must commit to tabling the real issues—even if considered sensitive—at these forums to ensure laser-like focus on the hard issues and to prepare recommendations and solutions for leaders at the EAS. If these meetings avoid or paper over real concerns, they could actually aggravate the situation and enhance the risk of confrontation and conflict.

Engage in proactive diplomacy. ASEAN can and should do more in the area of diplomacy. It cannot afford war or conflict in the South China Sea, yet it has assumed a reactive stance, interpreting the intentions of and awaiting signals from larger, more powerful nations. ASEAN could play a more proactive role in encouraging its members and partners to resolve disputes using existing legal and multilateral mechanisms such as the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), the International Court of Justice, and other world-class arbitration mechanisms. For instance, it would be useful to have an ASEAN envoy sent to the United States to meet administration and congressional leaders to encourage the United States to ratify the UNCLOS.

Integrate economies. While ASEAN appears to have been proactive in encouraging regional economic integration through negotiating free trade agreements with key partners, the fact is that the private sector has driven integration through rational and commercially motivated investments and development of new markets. Governments could and should do more to follow through on deepening and broadening trade and investment linkages by markedly increasing harmonization and standardization of investment rules, implementing common customs clearance measures, and developing practical joint development models—in consultation with the private sector—that would promote safe and environmentally sustainable development of resources in the South China Sea in ways that would benefit all countries.

These are some framework recommendations for how ASEAN and its partners could change the paradigm around discussions about the South China Sea from attempts to define differences to a proactive search for common interest and mutual benefit.

ASEAN has an opportunity to take on this historic challenge and succeed with strong support from its partners in the EAS and beyond. Only history will be able to judge the impact of ASEAN’s collective decision about whether to engage and lead or to assume a reactive posture and deal with the consequences.


.

Phát biểu của Thượng Nghị Sĩ John McCain tại Hội thảo Về An ninh Hàng hải Trên Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS).

Phát biểu của Thượng Nghị Sĩ John McCain tại Hội thảo Về An ninh Hàng hải Trên Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) (translated into Vietnamese by Ngoc Tran, RFA) - Source: http://www.diendantheky.net/2011/06/phat-bieu-cua-tns-mccain-tai-hoi-thao.html

Video of full presentation and discussion:
http://csis.orghttp://www.blogger.com/img/blank.gif/node/30707/multimedia
(Toward the end of this discussion: Genie Nguyen - Voice of Vietnamese Americans thanked Senator McCain for his service in Vietnam, thanked the Senator for sharing the same position with Democratic Senator Jim Webb on the Southeast Asian Sea, asked the Senator to have the Senate ratify UNCLOS soon, and suggest he would continue advocating for the US engagement in the Southeast Asian Sea regardless of 2012 Elections outcome.)


Cảm ơn John [Hamre] về lời giới thiệu hào phóng đó và cảm ơn tình bạn của anh trong nhiều năm qua. Tôi rất vui khi trở lại CSIS, nơi đã làm nhiều điều với mục đích thông báo suy nghĩ của Mỹ đến với thế giới và sự lãnh đạo của chúng tôi trong đó.

Như quý vị biết, tôi vừa từ Đông Nam Á trở về, và trước khi tôi chuyển qua chủ đề của hội nghị này, tôi muốn cung cấp một số cảm tưởng ngắn gọn về chuyến đi Miến Điện của tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được phép trở lại đất nước này trong 15 năm, điều đó cho thấy dấu hiệu về chính phủ dân sự mới này có thể đại diện cho một sự thay đổi so với quá khứ.

Sự tương phản đáng buồn

Một thay đổi đáng chú ý khác là thủ đô mới Nay Pyi Taw. Các tòa nhà chính phủ lớn, các cung điện chạm đá cẩm thạch, các khách sạn mới toanh, đường cao tốc với 18 làn xe, và điều kỳ lạ là: không có ai ở đó. Chỉ có chúng tôi là những chiếc xe duy nhất trên đường. Các tòa nhà gần như trống rỗng.

Đó là một điều kỳ quặc mà tôi đã trải qua. Và chắc chắn đó là một sự tương phản đáng buồn với sự nghèo đói khốn cùng ở Rangoon. Tôi đến thăm một phòng khám tư nhân [của những người bị bệnh] AIDS, mọi người đông nghẹt, nhiều trẻ em mồ côi, những người cần sự chăm sóc nhiều hơn là những phương tiện có sẵn. Tôi đã đi đến một dịch vụ cung cấp tang lễ miễn phí cho các linh hồn quá cố của những gia đình quá nghèo, để cho những người thân yêu của họ được chôn cất đàng hoàng.

Đau lòng lắm, và điều này làm cho các bạn ước muốn, phải chi chính phủ [Miến Điện] cũng đầu tư sự nhiệt tình và tài nguyên để phát triển đất nước của họ với mức độ tương tự như là việc xây dựng thủ đô.

Tuy nhiên, trong các cuộc họp của tôi với Phó Chủ tịch Thứ nhất, hai người đứng đầu Quốc hội, và những người khác, rõ ràng là chính phủ này muốn có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ. Tôi nhấn mạnh rằng chính phủ Hoa Kỳ và tôi chia sẻ khát vọng này, và rằng một điều như thế không phải là không thể đạt được. Sau cùng, nếu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cải thiện quan hệ, mà tôi biết một hoặc hai điều về vấn đề này, thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên, điểm chính tôi đã nhấn mạnh rằng, bất kỳ sự cải thiện mối quan hệ nào cũng cần được xây dựng, không những qua các cuộc nói chuyện vui vẻ, mà còn cần có các hành động từ cả hai phía. Hoa Kỳ cần sẵn sàng đặt mọi phương diện chính sách của chúng ta lên trên bàn, và để làm thay đổi những điều cụ thể mà chính phủ Nay Pyi Taw đã hỏi chúng tôi. Nhưng điều này chỉ có thể được thực hiện cùng với các hành động cụ thể về phía họ, đặc biệt là những lời kêu gọi của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: phóng thích tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép Hội Chữ thập đỏ được tự do vào thăm tất cả các nhà tù, bắt đầu một quá trình hòa giải quốc gia thực sự, có liên quan đến các đảng đối lập chính trị và dân tộc, gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, và bảo đảm sự an toàn và tự do đi lại của bà Aung San Suu Kyi.

Tôi đã có cơ hội gặp Bà [Aung San Suu Kyi] trong chuyến viếng thăm của tôi, và lý do tôi vẫn còn hy vọng cho người dân Miến Điện đó là vì bà. Hôm qua là sinh nhật của bà Aung San Suu Kyi và bà bày tỏ niềm hy vọng này: ‘Nếu được hỏi điều gì tôi mong muốn trong ngày sinh nhật của mình, tôi muốn hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho đất nước tôi’. Người phụ nữ tuyệt vời này vẫn còn là nguồn cảm hứng cho những người dân của bà và cho tôi. Và tôi đồng ý với bà rằng, đây không phải là lúc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh trừng phạt. Chúng ta cũng nên làm việc để thiết lập một Ủy ban Điều tra Liên hợp quốc, mà điều này không liên quan gì đến sự trừng phạt, và tất cả mọi thứ liên quan đến sự thật và công lý cho người dân Miến Điện.

Điểm nóng Biển Đông

Từ Miến Điện, tôi đã đi đến Singapore tham dự Đối thoại Shangri La, nơi mà một trong những chủ đề chính của cuộc thảo luận là chủ đề của hội nghị này: an ninh hàng hải ở biển Đông. Vấn đề này gây xúc động mãnh liệt giữa các nước tuyên bố chủ quyền trên vùng biển và vùng lãnh thổ. Và các chuyên gia thực sự hiểu những vấn đề phức tạp về lịch sử và pháp lý của những tuyên bố chủ quyền này, thì rất ít. Tôi đến từ Arizona, nơi mà chúng ta biết việc tranh đấu sử dụng đất và nước phức tạp như thế nào. Tôi cũng là một cựu lính Hải quân đã dành phần lớn cuộc đời của mình đi đây đó và làm việc về các vấn đề an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và tôi càng lo ngại, rằng biển Đông đang trở thành một điểm nóng xung đột.

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các nước trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho quý vị ở đây nghe tất cả các sự cố này. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước trong số các nước này thừa nhận. Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không một định mệnh lịch sử nào bắt chúng ta phải xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra ngoài khơi bán đảo Somali (Horn of Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi nghĩ nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng mà Trung Quốc tuyên bố trên biển Đông; các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả vùng biển trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines. Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải – bóp méo nguyên tắc về khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, khái niệm loại trừ sẽ hạn chế đi vào [vùng biển]. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này, như xin trích dẫn, ‘chiến tranh pháp lý’.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng ta liên quan đến ba cuộc xung đột đã xảy ra, và khi nợ quốc gia của chúng ta thực sự ngoài sức chịu đựng. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên ngoài cách xa nửa vòng trái đất?

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trọng tâm địa chính trị thế giới đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh. Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ quyền tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế, dựa trên luật lệ, rằng Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công, nghĩa là nếu việc liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào, hậu quả sẽ thật thảm khốc. Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ác ý chắc chắn sẽ áp dụng ở những nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích cường quốc đang trỗi dậy gây phiền hà khắp mọi nơi, sử dụng vũ lực, để chiếm đoạt những gì mà các phương tiện hoà bình hợp pháp không thể thực hiện được. Và nó sẽ đưa chúng ta đến gần hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.

Lập trường của Mỹ về Biển Đông

Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

Thứ nhất
, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các chính sách và các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN - làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

Thứ ba, Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn trên biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.


Thứ tư,
Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Chính tôi cũng đã nghi ngờ về công ước. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối [không cho các nước] đi vào vùng biển quốc tế. Điều này làm cho Hoa Kỳ phải dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực.

Không phải là nơi Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà là thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã đặt vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta, nên Quốc hội phải đặt những câu hỏi khó. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn cứ của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý lẽ có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu. Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm, không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra, tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không phải là cách để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta.

Chúng ta phải lên kế hoạch dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa, cho thấy mong muốn rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng ta ở nước ngoài. Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại.

Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc ở Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ. Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc không bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Senator John McCain
CSIS - Maritime Security in the Southeast Asian Sea (South China Sea)
June 20/ 2011

.

Tuesday, June 21, 2011

VVA Radio Message Monday June 20 - Report of Conference : Maritime Security in the Southeast Asian Sea (South China Sea)


RADIO VIETNAM HẢI NGOẠI
LẬP PHÁP – CỘNG ĐỒNG
DO VOICE OF VIETNAMESE AMERICANS phụ trách
THỨ HAI 20 THÁNG 6, 2011 – 04:00 EST



http://vietnam-radio.com/Tuan%20Nay/LapPhapCongDong.mp3


Ngọc Giao và Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt hay Voice of Vietnamese Americans phụ trách xin kính chào quý thính giả đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại và quý đồng hương khắp nơi. Chương trình Lập Pháp – Cộng Đồng do Voice of Vietnamese Americans phụ trách hân hạnh đến với quý thính giả mỗi thứ hai lúc 04:00 pm giờ Hoa Thịnh Đốn, hay lúc 04:00 giờ sáng, giờ Sài Gòn.

Trước khi bắt đầu chương trình hôm nay, Ngọc Giao và Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt xin kính mời quý thính giả và quý đồng hương cùng dành một phút yên lặng để tưởng niệm 13 vị anh hùng liệt nữ đã bỏ mình trong cuộc tranh đấu giành độc lập cho dân Việt từ tay người Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học. Ngày 17 tháng 6 vừa qua là ngày Tang Yên Bái. Nguyễn Thái Học khi lên đoạn đầu đài đã hô to: “Không thành công, cũng thành nhân” . Cho đến mãi hôm nay, chúng ta thấy đây là điều vô cùng quan trọng. Chữ “Nhân” trở thành một yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững và lâu dài trong xã hội. Vì Đảng CSVN tuy may mắn được trao vào tay quyền hành, nhưng đã xem thường nhân quyền, dân quyền, và xử sự như loài thú vật với chính dân tộc Việt, tạo bao thảm họa đau thương hơn cả thời thực dân. Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng đưa ra chủ trương Dân Chủ Hóa Đông Dương, có cùng mục đích cơ bản với sách lược của thế giới hôm nay.

Ngày hôm qua, 19 tháng 6, là Father’s Day hay ngày vinh danh người Cha, theo tập tục Hoa Kỳ, nhưng cũng là ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngọc Giao và Tiếng Nói Người Mỹ gốc Việt xin mời quý đồng hương cùng dành một phút chúc mừng và tạ ơn tất cả các người Cha Việt, cũng như tri ân các anh hùng chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chiến đấu hào hùng để bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, tự dọ, và dân chủ cho người Việt.

Thời gian đã phơi bày nhiều sự thật. Nhừng tấm gương anh hùng sẽ đời đời sáng chói trong Sử Việt.

Trong dịp Lễ Cha, chúng ta cũng không quên một câu chuyện lịch sử muôn đời của Việt, đó là chuyện Nguyễn Phi Khanh và danh thần Nguyễn Trãi. Nguyễn Phi Khanh là tướng Việt trong thế kỷ 15, bị quân Minh bắt giải về Tàu, con trai là Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Hùng theo đến Ải Nam Quan bịn rịn khóc lóc. Nguyễn Phi Khanh đã bảo Nguyễn Trãi: Hãy về tìm người lãnh đạo có tâm, có tài, theo giúp để khôi phục quê hương, đó là một cách báo hiếu cho cha. Nguyễn Trãi vâng lời, gạt lệ từ biệt, rời Ải Nam Quan và đi tìm người để giúp lấy lại giang sơn từ tay quân Minh. Nguyễn Trãi đã theo giúp Lê Lợi, suốt mười năm kháng chiến gian khổ, lấy lại độc lập cho Đại Việt sau 20 năm bị quân Minh đô hộ. Nguyễn Trãi đã là ra tập “Bình Ngô Đại Cáo”, còn lưu truyền đến ngày nay. Trong đó, có nhiều câu khuyên tướng sĩ nên lấy nhân nghĩa làm điều căn bản để làm sáng tỏ chính nghĩa Đại Việt, khác xa quân Tàu:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo,
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác”

Nhờ Bình Ngô Đại Cáo nêu rõ các điều căn bản, mà cuộc kháng chiến chống quân Minh thành công. Ngày hôm nay, chúng ta không khỏi đau buồn thấy rằng, bài học xưa đã rành rành, mà nhà cầm quyền CSVN nhắm mắt bịt tai theo Trung Cộng, bán đất, bán biển, bán dân, bán quặng mỏ cho quân Tàu, trong khi thẳng tay đàn áp dân Việt một cách dã man, đau lòng.

Nhân ngày Lễ Cha, ngày Tang Yên Bái, ngày Quân Lực VNCH, xin kính mong hồn thiêng sông núi của các vị Cha Việt về phù trợ cho dân tộc chúng ta sớm thoát khỏi sự cai trị tàn ác, vô nhân của Cộng Sản, bảo vệ giang sơn gấm vóc và giữ gìn văn hóa của tổ tiên. Đó là văn hóa Hòa Bình, văn minh Lúa Nước, lấy sự trọng nhân, dưỡng dân làm căn bản, mang tinh thần hòa ái để xây dựng và phát triển.

Thưa quý thính giả, trong gần một tháng qua, người Việt khắp nơi trong và ngoài nước không ngừng xôn xao lo lắng vì thái độ hung hăng của Trung Cộng, và sự phản ứng yếu ớt của Cộng Sản Việt Nam. Người Việt trong và ngoài nước đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình liên tiếp, đặc biệt là dân trong nước cho đến hôm nay, 19 tháng 6, đã có đợt biểu tình thứ 3, để lên tiếng phản đối Trung Cộng lấn chiếm biển Đông của Việt Nam. Trên thế giới, cũng có các cuộc biểu tình của người Việt hải ngoại tại Pháp, Cannada, Hoa Kỳ, Úc.

Ngày hôm nay, thứ hai 20 tháng 6, và ngày mai, 21 tháng 6, Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Hoa Kỳ hay (Center for Strategic and International Studies) tại Hoa Thịnh Đốn có một cuộc hội thảo với nhiều chuyên gia và nhân vật cao cấp để nhận định về tình hình an ninh tại vùng biển Đông Nam Á Châu, cũng như đưa ra một số đề nghị cần thiết cho chính sách an ninh trong khu vực. Buổi thảo luận này được tổ chức để sửa soạn cho Hội Nghị Khu Vực ASEAN và Hội Nghị sau cuộc gặp gỡ của các lãnh đạo trong vùng vào tháng 7, cùng với Hội Nghị Đông Á (East Asia Summit) vào tháng 10 tại Indonesia.

Trong số những người tham dự, có Đề Đốc Thad Allen, Ông Termsak Chalermpalanupap, Giám Đốc Nha Chính Trị An Ninh vùng Đông Nam Á tại Liên Hiệp Quốc, TS Vijay Sakhuj, Hội Đồng Cố Vấn Thế Giới Vụ tại Ấn Độ, GS Su Hao từ Đại Học Ngoại Vụ tại Bắc Kinh, TS Tran Truong Thuy, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Vấn Đề Biển Đông, Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, TS Đặng Đình Quý, Giám Đốc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, TS Fu Kuo Liu, Viện Nghiên Cứu Bang Giao Thế Giới, Đại Học Quốc Gia Chengchi tại Đài Loan, Ông Henry Bensruto, Tổng Thư Ký, Hội Đồng Hàng Hải và các vấn đề trên Biển của Bộ Ngoại Giao Phi Luật Tân.

Từ Quốc Hội Hoa Kỳ có TNS John McCain, (R- Arizona), và Dân Biểu Howard Berman (D – California).

Ngoài ra, còn có sự tham dự của GS Carl Thayer, từ Đại Học New South Wales, thuộc Bộ Quốc Phòng Úc Châu.

Người Việt Nam thì có GSTS Nguyễn Mạnh Hùng, giảng dạy về Bang Giao Mỹ Việt tại Đại Học George Mason, cố vấn của Voice of Vietnamese Aemricans, GS Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch NCVA, cũng là một cố vấn của VVA, Anh Hoàng Tứ Duy và chị Trang Huỳnh thuộc đảng Việt Tân, LS Trần Đình Hoành, GS Ngô Vĩnh Long, Anh Nguyễn Văn Khanh, Giám Đốc RFA, Chị Việt Hà, và anh Đậu Thanh Vân thuộc RFA, chị Hà Giang thuộc báo Người Việt, Trà My và Hoài Hương từ VOA, và rất nhiều nhân viên sứ quán Việt Nam.

Xin quý vị vui lòng click vào link để nghe phần tường trình buổi hội thảo và phỏng vấn GS Bích cùng anh Hoàng Tứ Duy.


http://vietnam-radio.com/Tuan%20Nay/LapPhapCongDong.mp3



.

Monday, June 20, 2011

CSIS - Maritime Security in the Southeast Asian Sea (South China Sea)

.


http://csis.org/event/maritime-security-south-china-sea

http://csis.org/node/30707/multimedia

CSIS invites you to join a select and high level group of experts and senior policy makers for the Center for Strategic & International Studies (CSIS) conference on Maritime Security in the South China Sea to be held at June 20-21, 2011. Please note that the first day of the conference will be held at CSIS (B1 Conference Facilities, 1800 K St NW, Washington, DC 20006). The second day of the conference will be held at the Leavey Center at Georgetown University (3800 Reservoir Road, NW, Washington, DC 20057).

We have recruited a world-class group of experts to kick of the dialogue around four key themes:
i. Assessment of interests and positions of parties in the South China Sea;
ii. Update on recent developments in the South China Sea;
iii. Assessment of the effectiveness of current maritime security frameworks and mechanisms in the South China Sea; and,
iv. Policy recommendations to enhance security in the region

The conference will be on the record. CSIS intends to publish select papers from the panelists and a summary of the findings from the discussion.

The conference is being organized ahead of the ASEAN Regional Forum and Post Ministerial Conference in July and the East Asia Summit (EAS) in October in Indonesia. There is a great need and interest to explore security interests in and around the South China Sea, and we have invited a world-class group of approximately 20 experts to make presentations and we will invite about 80 senior officials, executives, experts, academics and members of the media to participate in the dialogue.

Please click here RSVP by Friday, June 17, 2011. You must log on to register. NOTE: The link for RSVPs only works if you DO NOT have a language pack installed on your computer. If you have language packs on your computer, please RSVP directly to the Southeast Asia Program using the link above or email southeastasiaprogram@csis.org. When you RSVP please include the panels you wish to attend.

Sunday, June 19, 2011

VOICE OF VIETNAMESE AMERICANS COMMEMORATES AND HONORS THE ARMED FORCES OF THE REPUBLIC OF VIETNAM

.




On this 19th day of June 2011, Voice of Vietnamese Americans commemorates and honors the brave soldiers of the Armed Forces of the Republic of Vietnam, for having served the national interests of Vietnam, served the Vietnamese People, having sacrificed for the noble cause of Freedom and Democracy. The ARVN had fought and had overcome the most challenging battle: that of the betrayal from their own allies.

Time has unveiled many truths, and the true heroes will forever stand tall in the history of Vietnam.

Respectfully,

Voice of Vietnamese Americans


Nhân ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6, 2011, Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt xin thành kính tri ân và vinh danh tất cả các chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ quyền lợi tối thượng của quốc gia, dân tộc, và hy sinh cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu và vượt qua trận chiến ác liệt nhất: sự phản bội của chính phe đồng minh.

Thời gian đã phơi bày nhiều sự thật. Nhừng tấm gương anh hùng sẽ đời đời sáng chói trong Sử Việt.

Thành kính,

Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt,
Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6, 2011



.

HAPPY FATHER'S DAY - Xin Vinh Danh Ngừoi Cha Việt - ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6

.







Xin Vinh Danh Ngừoi Cha Việt - ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6

HAPPY FATHER'S DAY TO ALL FATHERS ON EARTH,
WITH SPECIAL RECOGNITION AND HONOR TO THE VIETNAMESE FATHERS

Voice of Vietnamese Americans

Saturday, June 18, 2011

The Limits to US-Vietnam Ties - Richard Pearson - Vietnamese Version by Le Quoc Tuan - X CafeVN

.

http://the-diplomat.com/2011/06/16/the-limits-to-us-vietnam-ties/



By Richard Pearson
Relations have been transformed in recent years. But if they’re to get any better, Hanoi will have to start moving on human rights and democracy.


This summer marks 36 years since the fall of Saigon, 16 since the United States and Vietnam established diplomatic relations, and 14 since the US Embassy in Hanoi opened its doors. Today, the two countries find themselves sharing more positions on a broader range of issues than ever before. Indeed, diplomats have even spoken in terms of a ‘strategic partnership’ developing between Hanoi and Washington.

Policymakers in both capitals justifiably speak with pride and enthusiasm of their achievements, and the great potential that exists to develop an even more robust relationship in coming years. Speaking on May 31 at the Center for Strategic and International Studies, Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs Kurt Campbell spoke of Washington’s ‘desire and intention to improve this relationship going forward.’

Yet while both sides rightly want to grow closer, absent improvements in human rights and political freedoms in Vietnam, the Barack Obama administration has taken engagement with the Vietnamese government as far as it can without alienating the US public and Congress. Although there remains room on both sides for further adaptation and accommodation, the onus now rests squarely on Hanoi to meet the US halfway by pursuing domestic policy reforms, particularly in the areas of political freedom and civil rights. Effectively addressing these Vietnamese domestic issues – what Campbell referred to as a ‘limiting factor’ in the relationship – would give the Obama administration a greater ability to work with Vietnam and allow the relationship to progress to the next level.

Since taking office, Obama has expended energy and political capital in pursuit of strong ties with Southeast Asia. After eight years that saw Washington disengaged and distracted from Southeast Asia, on coming to power Obama moved quickly to increase US engagement with this important region. Since the beginning of the Obama presidency, US engagement with Vietnam has grown particularly fast – though admittedly from a low base – to a level not seen since the heady days when President Bill Clinton visited Hanoi in 2000 and delivered the first ever speech by a foreign leader to be broadcast live across Vietnam.

In pursuing stronger ties with Southeast Asia and defending US maritime interests, the United States earned Beijing’s ire when, at the ASEAN Regional Forum Foreign Ministers' Meeting in Hanoi last July, Secretary of State Hillary Clinton aligned the US with Southeast Asian countries by raising concerns about China’s ambitious maritime territorial claims in the South China Sea and calling for ‘a collaborative diplomatic process by all claimants.’

However, such US actions have been met with a warm welcome in a Hanoi eager to promote its own political and economic integration with the world and increasingly wary of China. Moreover, recent US overtures may have finally disabused most of the Vietnamese leadership of the notion that Washington seeks to orchestrate a ‘peaceful evolution’ away from Vietnamese Communist Party rule.

Vietnam’s enthusiastic welcome last August of both the USS George Washington’s cruise down the Vietnamese coast, and the guided-missile destroyer USS John S. McCain’s port call in Danang shortly after, demonstrate the importance that Hanoi now places on robust security ties with the United States. Similarly, Vietnam’s decision to join the Trans-Pacific Partnership, which is quietly emerging as Washington’s preferred Asia-Pacific forum, highlights Hanoi’s desire for greater political and economic integration as well as its growing comfort with a strong United States that’s deeply engaged with Southeast Asia.

Still, Vietnam continues to take domestic actions that alienate US observers and make the sort of close relationship that Hanoi desires politically impossible and morally untenable for the Obama administration.

Continuing crackdowns on politically and socially-active religious leaders, increased and more severe prosecution and sentencing of Vietnamese dissidents as well as continued maintenance of substantial restrictions on Internet, communications and the press make Vietnam hard to fully embrace for an Obama administration that is already facing strong headwinds domestically.

All this means that strong move forward is needed from Hanoi. With tensions in the South China Sea showing no signs of cooling in the near term, and with China’s naval capabilities continuing to grow, a robust US-Vietnam relationship is in both parties’ interests (although it is an inescapable reality of global power dynamics and Asian security that the United States matters more to Vietnam than Vietnam does to the US).

The Obama administration’s overtures to Vietnam have reached the acceptable limits imposed by America’s democratic society and values, and it’s now time for Hanoi to make the next move. Only by so doing will both Hanoi and Washington be able to develop the strong relationship that both rightly seek.

Richard Pearson is a programme associate at the Maureen and Mike Mansfield Foundation where he manages China, Vietnam and South China Sea programmes.

-----------

Những Giới hạn trong Quan hệ Việt - Mỹ
Submitted by Lê Quốc Tuấn on Thu, 06/16/2011 - 23:52

Richard Pearson/The Diplomat
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ




Các quan hệ giữa hai nước đã từng có chuyển biến trong những năm gần đây. Nhưng để có thể đạt được điều gì tốt hơn, Hà Nội sẽ phải bắt đầu các chuyển động về nhân quyền và dân chủ.

Mùa hè này đánh dấu 36 năm kể từ khi Sài Gòn sụp đổ, 16 năm kể từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam tái thiết lập quan hệ ngoại giao và 14 năm kể từ khi Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội mở cửa. Ngày nay, hơn bao giờ hết, cả hai nước đều tìm thấy chính mình đang chia sẻ nhiều vai trò hơn trên một phạm vi rộng hơn về các vấn đề. Thật vậy, ngay cả các nhà ngoại giao cũng đã từng nói về những ý nghĩa của một "đối tác chiến lược" phát triển giữa Hà Nội và Washington.

Các nhà hoạch định chính sách ở cả hai thủ đô đã tuyên bố với nhiệt tình và niềm tự hào chính đáng về những thành tựu của họ và tiềm năng tuyệt vời từng có để phát triển một mối quan hệ thậm chí còn mạnh mẽ hơn trong những năm tới. Phát biểu ngày 31 tháng 5 tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, trợ lý Ngoại trưởng đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell đã nói về "mong muốn và ý định cải thiện mối quan hệ này trong tương lai" của Washington.

Tuy nhiên, trong khi cả hai bên đều muốn phát triển gần gũi hơn giữa những thiếu vắng về mặt cải thiện trong nhân quyền và tự do chính trị tại Việt Nam, chính quyền Barack Obama đã hứa hẹn với chính phủ Việt Nam trong một chừng mực có thể được mà không làm công chúng Mỹ và Quốc hội giận dữ. Mặc dù hai phía vẫn còn chỗ để thích ứng và dàn xếp hơn nữa, trách nhiệm này hiện nay hoàn toàn nằm bên phía Hà Nội để đáp ứng cân bằng với phía Mỹ bằng cách theo đuổi những cải cách chính sách trong nước, đặc biệt trong các lĩnh vực tự do chính trị và các quyền về dân sự. Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề trong nước của Việt Nam - những điều mà Campbell nhắc đến như một "yếu tố hạn chế của mối quan hệ hai nước - sẽ cung cấp cho chính quyền Obama một khả năng lớn hơn để làm việc với Việt Nam và cho phép các mối quan hệ có thể tiến đến được một mức độ cao hơn.

Kể từ khi nhậm chức, Obama đã bỏ ra nhiều năng lực và vốn liếng chính trị trong việc theo đuổi những quan hệ mạnh mẽ với khu vực Đông Nam Á. Sau tám năm nhìn thấy Washington tách rời và bị phân tâm khỏi khu vực Đông Nam Á, khi lên nắm quyền Tổng thống Obama đã nhanh chóng tăng cường sự tham dự của Mỹ vào khu vực quan trọng này. Ngay từ đầu nhiệm kỳ tổng thống của Obama, tham dự của Mỹ với Việt Nam đã phát triển đặc biệt nhanh chóng - mặc dù phải thừa nhận là từ một nền tảng thấp - đến một mức độ chưa từng thấy kể từ những ngày Tổng thống Bill Clinton đến thăm Hà Nội vào năm 2000 và từng mang lại bài phát biểu đầu tiên của một nhà lãnh đạo nước ngoài từng được phát sóng trực tiếp trên khắp Việt Nam.

Trong việc theo đuổi các mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Đông Nam Á và bảo vệ quyền lợi hàng hải của mình, Mỹ đã phải gánh cơn giận dữ của Bắc Kinh, khi tại Hội nghị ASEAN Diễn đàn Khu vực Bộ trưởng Ngoại giao tại Hà Nội hồi tháng Bảy, ngoại trưởng Hillary Clinton đã liên kết Mỹ với các nước Đông Nam Á bằng cách nâng cao mối lo lắng về tham vọng khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trong khu vực Biển Nam Trung Hoa và kêu gọi "một tiến trình hợp tác ngoại giao cho tất cả các bên tranh chấp".

Tuy nhiên, những hành động ấy của Mỹ đã được đáp ứng bằng sự chào đón nồng nhiệt trong mong muốn thúc đẩy cuộc hội nhập chính trị và kinh tế của mình với thế giới và ngày càng cảnh giác với Trung Quốc của Hà Nội. Hơn thế nữa, có thể lời đề nghị gần đây của Hoa Kỳ cuối cùng đã làm tỉnh ngộ hầu hết các nhà lãnh đạo Việt Nam về quan điểm cho rằng Washington từng tìm cách phối soạn lên một "diễn biến hòa bình" nhằm lật đổ cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhiệt tình chào đón vào tháng Tám năm ngoái cả tàu hàng không mẫu hạm USS George Washington và cuộc ghé cảng của khu trục hạm tên lửa định hướng USS John S. McCain tại Đà Nẵng ngay sau đó của Việt Nam, đã chứng minh tầm quan trọng mà Hà Nội hiện đặt để vào mối quan hệ an ninh mạnh mẽ với Mỹ. Tương tự như vậy, Việt Nam đã quyết định tham gia vào Quan hệ Đối Tác liên Thái Bình Dương (Trans Pacific Partnership) vốn đã lặng lẽ nổi lên như một diễn đàn đối thoại ưu tiên được ưa chuộng của Washington, càng nhấn mạnh thêm mong muốn hội nhập chính trị và kinh tế rộng lớn hơn của Hà nội cũng như lòng an tâm gia tăng của họ với một nước Hoa Kỳ mạnh mẽ đang tham dự một cách sâu sắc với vùng Đông Nam Á .

Thế nhưng, Việt Nam vẫn tiếp tục có những hành động trong nước khiến giới quan sát Mỹ xa lánh và khiến các loại mối quan hệ gần gũi về chính trị mà Hà Nội mong muốn trở nên bất khả thi và không đứng vững về mặt đạo đức cho chính quyền Obama.

Tiếp tục đàn áp các nhà tranh đấu chính trị, xã hội và tôn giáo, gia tăng truy tố và xử án nặng những nhà bất đồng chính kiến Việt Nam cũng như tiếp tục duy trì hạn chế đáng kể trên mạng Internet, truyền thông và báo chí khiến Việt Nam khó có thể hoàn toàn chấp nhận được đối với một chính quyền Obama vốn đã phải đối diện với những cơn gió nghịch mạnh mẽ từ trong nước.

Tất cả điều này có nghĩa là việc tiến mạnh về phía trước là cần thiết cho phía Hà Nội. Với những căng thẳng ở Biển Đông không hề cho thấy dấu hiệu lắng dịu trong một tương lai gần và với khả năng hải quân của Trung Quốc tiếp tục phát triển, một mối quan hệ Mỹ-Việt mạnh mẽ sẽ là lợi ích của cả hai bên (mặc dù không thoát khỏi thực tế của động lực sức mạnh toàn cầu và an ninh châu Á rằng Hoa Kỳ quan trọng với Việt Nam hơn là tầm quan trọng của Việt Nam đến Hoa Kỳ).

Đề nghị của chính quyền Obama với Việt Nam đã đạt đến những giới hạn chấp nhận được căn cứ vào các giá trị và xã hội dân chủ của nước Mỹ và hiện nay là lúc để Hà Nội phải đi ván cờ kế tiếp của mình. Chỉ bằng cách đó, cả Hà Nội và Washington mới có thể phát triển mối quan hệ mạnh mẽ mà cả hai từng cùng tìm kiếm.

Nguồn: The Diplomat - X-CafeVN

.